vanban.org

Bản án 123/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thùy Tr về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với anh Lê Thành T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thùy Tr được ly hôn với anh Lê Thành T Về con chung: Giao cháu Lê Thị Hồng N, sinh ngày 18/11/2019 cho chị Lê Thị Thùy Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh Lê Thành T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T yêu cầu ly hôn với anh T, con chung không cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không có"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thùy Tr về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với anh Lê Thành T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31/7/2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi
con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài.

Ông Đặng Quang Hoạch.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Đăng Định – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 504/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/7/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thùy Tr, sinh năm: 2000.

Bị đơn: Anh Lê Thành T, sinh năm: 1994.

Cùng địa chỉ: Tổ 2, ấp 1, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Thùy Tr trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T tự nguyện tìm hiểu và yêu thương nhau nên chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã M, thành phố C, tỉnh Đ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2017. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng từ đầu năm 2023 đến nay anh T mỗi lần đi nhậu về ghen tuông vô cớ và có đánh đập chị, mâu thuẫn kéo dài, anh T cũng không thay đổi nên vợ chồng đã sống riêng được 02 tháng, chị không còn tình cảm với anh T, hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Lê Thị Hồng N, sinh ngày 18/11/2019. Ly hôn, chị yêu cầu được nuôi cháu N và không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì bận công việc gia đình nên chị xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

- Anh Lê Thành T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, còn có vi phạm về thời hạn giao quyết định đưa vụ án ra xét xử và hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Tr là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị cho chị được ly hôn với anh T. Về con chung: Giao con chung cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng và tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung đương sự trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Chị Tr phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Lê Thị Thùy Tr nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Lê Thành T, sinh năm: 1994, địa chỉ: Tổ 2, ấp 1, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Về thủ tục tố tụng:

Chị Tr nộp đơn đúng trình tự thủ tục nên được thụ lý, giải quyết.

Chị Tr, có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu khởi kiện:

3.1 - Về quan hệ hôn nhân:

Chị Tr và anh T tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn, được UBND xã M, thành phố C, tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 103 ngày 27/11/2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Tr kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh T, hiện nay vợ chồng không còn quan T đến nhau, hôn nhân không hạnh phúc và vợ chồng đã sống riêng. Đồng thời, Tòa án nhiều lần triệu tập anh T để làm việc nhưng anh T vắng mặt không có lý do, thể hiện việc anh T không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ. Từ những căn cứ trên, xét mâu thuẫn giữa anh T với chị Tr là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Tr yêu cầu ly hôn với anh T là có cơ sở, phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2 - Về con chung: Có 01 con chung là cháu Lê Thị Hồng N, sinh ngày 18/11/2019. Trường hợp ly hôn, chị Tr yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và tạm thời không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Xét thấy chị Tr có công việc ổn định và chị nuôi dưỡng cháu từ nhỏ nên giao cháu N cho chị Tr tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo cháu có cuộc sống ổn định; tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3.3 - Tài sản chung, nợ chung: Chị Tr trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Tr phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 220, 228, 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thùy Tr về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với anh Lê Thành T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thùy Tr được ly hôn với anh Lê Thành T

2. Về con chung: Giao cháu Lê Thị Hồng N, sinh ngày 18/11/2019 cho chị Lê Thị Thùy Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh Lê Thành T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lê Thành T được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Thùy Tr phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nhưng trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002940 ngày 12/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Chị Lê Thị Thùy Tr đã nộp đủ án phí.

5. Chị Lê Thị Thùy Tr, anh Lê Thành T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ