- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Hùng D- Nguyễn Thị L"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 123/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07-8-2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM - TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Thành Đông
Bà Trần Ngọc Diệu
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Mỹ Trang – kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 291/2023/TLST-HNGĐ ngày 15/6/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 247/2023/QĐXX-ST ngày 24 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Hùng D, sinh năm 1980;
Địa chỉ: số A, khu phố Z, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1982;
Địa chỉ: số A, khu phố Z, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre.
(ông D và bà L vắng mặt, ông bà có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt, cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn ông Trần Hùng D trình bày:
- Về hôn nhân: Ông và bà L tự nguyện kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Giồng Trôm ngày 07/3/2007. Sau khi kết hôn, ông bà cùng tạo dựng hạnh phúc gia đình và chăm L cho các con. Tuy nhiên, những năm gần đây vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, do thường xuyên bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng tăng, không có khả năng hàn gắn hạnh phúc gia đình. Ông bà đã sống riêng, không còn quan tâm, thương yêu lẫn nhau. Vì vậy, ông xin được ly hôn với bà L.
- Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có hai con chung tên Trần D K, sinh ngày 08/01/2001 và Trần Phi L, sinh ngày 28/5/2009. Hai con đang sống chung với ông. Sau khi ly hôn ông yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung Trần Phi L. Riêng con chung tên Trần D K đã thành niên tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu giải quyết. Ông không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không có.
- Về nợ chung: Không có.
Vì bận việc gia đình nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Theo đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 06/7/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Bà không có ý kiến gì hết. Bà đồng ý ly hôn với ông D. Về con chung muốn ở với ai thì ở, nếu ông D nuôi bà cũng đồng ý.
Do đi làm xa không về được nên bà đề nghị giải quyết vắng mặt bà.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu:
-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng quy định; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Ông D thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bà L chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông D. Về con chung: Hiện con chung Trần Phi L đang sống với ông D, ý kiến con chung cũng mong muốn được tiếp tục sống với ông D nên việc ông yêu cầu được tiếp tục nuôi con là phù hợp. Riêng con chung Trần D K đã thành niên, tự lao động nuôi sống bản thân nên không đề cập giải quyết. Ghi nhận ông D không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông D khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bà L. Bà L đang cư trú tại thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm theo quy định tại Điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Theo bản chính giấy chứng nhận kết hôn do ông D cung cấp thể hiện Ủy ban nhân dân thị trấn Giồng Trôm cấp chứng nhận kết hôn cho ông D và bà L vào ngày 07/3/2007. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi cưới nhau, thời gian đầu ông bà sống hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Ông bà đã sống riêng, không còn thương yêu chăm sóc lẫn nhau và cũng không ai mong muốn hàn gắn.
Theo biên bản xác minh ngày 18/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm tại Ủy ban nhân dân thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre không xác định rõ nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai ông bà vì ông bà không có trình báo tại địa phương.
Tuy nhiên, tại đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 06/7/2023, bà L thể hiện ý kiến đồng ý với việc ông D xin ly hôn, bà không tranh chấp về con chung, tài sản chung và nợ chung.
Từ đó có đủ cơ sở khẳng định hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ông D.
[3] Về con chung: Ông D yêu cầu được nuôi con chung Trần Phi L, bà L cũng đồng ý. Đồng thời nguyện vọng của cháu L cũng mong muốn được ở với ông D. Do đó xét yêu cầu xin nuôi con chung của ông D là phù hợp nên được chấp nhận. Ghi nhận ông D không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung Trần D K đã thành niên, tự lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Ông D cho rằng tài sản chung, nợ chung không có. Bà L cũng không ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Ông D phải chịu án phí ly hôn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hùng D cụ thể tuyên:
[1] Về hôn nhân: Ông Trần Hùng D được ly hôn với bà Nguyễn Thị L.
[2] Về con chung: Giao con chung tên Trần Phi L, sinh ngày 28/5/2009 cho ông Trần Hùng D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Ghi nhận ông Trần Hùng D không yêu cầu bà Nguyễn Thị L cấp dưỡng nuôi con.
Bà Nguyễn Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp có yêu cầu của một, cả hai bên hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[3] Về tài sản chung không tranh chấp, nợ chung không có.
[4] Về án phí: Ông Trần Hùng D có nghĩa vụ nộp án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên L thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005955 ngày 13 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ông Trần Hùng D đã nộp xong án phí.
[5] Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Giồng Trôm; - TAND tỉnh Bến Tre; - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm; - Các đương sự; - UBND thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Ngoan |