vanban.org

Bản án 123/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 25/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xu n C phạm tội Trộm cắp tài sản .

Xử phạt: Nguyễn Xu n C 12 (M i hai) tháng tù nhưng cho hư ng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai m ơi t ) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo cho UBND phường NgB, thị xã NghS, tỉnh Thanh Hóa, để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đ i nơi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Cung trộm giàn giáo - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xu n C phạm tội Trộm cắp tài sản .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHS
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2022/HS-ST
Ngày: 25-10-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHS, TỈNH THANH HÓA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Th Anh

2. Bà Nguyễn Thị T n

- Thư ký phiên toà: Bà L Thị Hải V n – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã NghS, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thị xã NghS, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Duy n – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 10 năm 2022, tại Toà án nhân dân thị xã NghS, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 115/2022/TLST – HS ngày 23 tháng 9 năm 2022, theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2022/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân C – Sinh năm: 1989 tại phường NgB, thị xã NghS, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: T d n phố STh, phường NgB, thị xã NghS, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; D n tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Xu n N – Sinh năm: 1958 và bà: Đ Thị Th – Sinh năm: 1963; Vợ: Nguyễn Thị L – Sinh năm: 1995; Bị cáo có 01 con nhỏ sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/6/2022 đ n nay – Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Cty C ph n Llm18; Trụ s : 9 – 19 HTM, phường NgTB, quận 1, Thành phố H Chí Minh

Đại diện theo pháp luật: ng Ngô Quang Đ – Chức vụ: T ng Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: ng Khương Xu n D – Sinh năm: 1989. Chức vụ: Đội phó Đội công trình số 5 Công ty C ph n Llm 18; Trú tại: SN 49, khu phố 3, thị trấn LĐ, huyện NghH, tỉnh N1 Định.

* Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn N1 – Sinh năm: 1996; Trú tại: T d n phố BH, phường HTh, thị xã NghS, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Nguyễn Xu n H – Sinh năm: 1986; Trú tại: T d n phố STh, phường NgB, thị xã NghS, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng:

- Anh Nghiêm Xuân D1 – Sinh năm: 1988; Trú tại: T d n phố LTr, phường HTh, thị xã NghS, tỉnh Thanh Hóa.

- Chị V Thị Minh Ph – Sinh năm: 1979; Trú tại: Thôn S, xã CS, thị xã NghS, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Xu n C – Sinh năm 1989, trú tại t d n phố STh, phường NgB, thị xã NghS, tỉnh Thanh Hoá là công nh n của Công ty C ph n Llm 18 t d n phố BH, phường HTh, thị xã NghS, tỉnh Thanh Hoá. Trong quá trình ăn , sinh hoạt tại khu tập thể Công ty, phát hiện thấy đ y có nhiều tài sản, trong khi đó bảo vệ lại lơ là, sơ h trong việc trông coi, bảo quản tài sản nên C đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và trong khoảng thời gian từ ngày 28/3/2022 đ n ngày 15/4/2022, C đã 04 l n thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Công ty, cụ thể như sau:

L n thứ nhất: Vào khoảng 04 giờ sáng ngày 28/3/2022, C đi đ n nơi để giàn giáo của Công ty lấy trộm 20 mâm giàn giáo bằng kim loại mang đ n phòng số 3 khu tập thể Công ty cất giấu. Đ n 06 giờ sáng cùng ngày, C đi xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen, BKS 36N-6407 (của anh Nguyễn Xuân H - là anh trai C) đ n cửa hàng thu mua ph liệu của anh Nguyễn Văn N1 t d n phố BH, phường HTh gạ bán số giàn giáo trên cho anh N1 và mượn anh N1 chi c xe ki n an (loại xe kéo hai bánh tự chế) để ch . Sau đó, C sử dụng xe mô tô kéo theo xe ki n an đ n nơi cất giấu tài sản trộm cắp ch 20 m m giàn giáo đ n cửa hàng nhà N1, c n được 190kg và bán cho N1 với giá 2.100.000 đ ng.

L n thứ 2: Vào khoảng 04 giờ, ngày 10/4/2022, C đ n nơi để giàn giáo trước đó, ti p tục lấy trộm 20 mâm giàn giáo đem đ n phòng số 3 của khu tập thể Công ty cất giấu. Đ n khoảng 18 giờ cùng ngày, C đ n nhà N1 mượn xe mô tô nhãn nhiệu FOCOL màu đen, BKS 29X1 - 2820 và xe ki n an ch số gián giáo trộm cắp trên đ n c n được 200kg và bán cho N1 với giá 2.200.000 đ ng.

L n thứ 3: Vào khoảng 02 giờ, ngày 12/4/2022, C đi tới phòng P.F2 dãy nhà C của khu tập thể Công ty, tại đ y có các khung sắt giường t ng đã được tháo rời và x p trong phòng, C l n lượt vác trộm 04 bộ giường g m 16 khung mang đi cất giấu tại phòng số 3 khu tập thể Công ty. Đ n 19 giờ cùng ngày, C đ n gặp anh N1 gạ bán số khung giường trên và bảo N1 đ n ch về. N1 điều khiển chi c xe mô tô nhãn hiệu FOCOL, màu sơn đen bạc, BKS 29X1-2820 kéo theo xe ki n an r i cùng C đ n nơi cất giấu tài sản ch toàn bộ số khung giường t ng C trộm cắp được về cửa hàng c n được 104kg và bán cho N1 với giá 2.400.000 đ ng.

L n thứ 4: Vào khoảng 01 giờ, ngày 15/4/2022, C đ n dãy nhà C và D của khu tập thể Công ty tháo trộm 20 cánh cửa bằng tôn trước và sau của một số phòng mang về phòng số 3 khu tập thể Công ty cất giấu. Đ n khoảng 19 giờ cùng ngày, C đ n nhà N1 gạ bán số cửa sắt trên và bảo N1 đ n kéo về, sau đó N1 điều khiển chi c xe mô tô và kéo theo xe ki n an phía sau đi theo C đ n vị trí đang cất giấu tài sản ch toàn bộ số cửa sắt trên về cửa hàng, sau đó c n được 192,5kg và C bán cho N1 với giá 2.300.000 đ ng.

Toàn bộ số tiền bán tài sản trộm cắp nêu trên C sử dụng vào việc tiêu xài cá nh n h t.

Đối với số tài sản N1 mua của C, sau đó N1 bán lại cho chị V Thị Minh Phương g m 40 m m giàn giáo bằng kim loại và 06 khung giường t ng bằng sắt, sau đó chị Phương đã bán lại cho một người thu mua sắt vụn không rõ danh tính, địa chỉ nên không thu gi được. Đối với 10 khung giường t ng và 20 cánh cửa, nghĩ đang còn giá trị sử dụng nên N1 để lại và bị Cơ quan điều tra thu gi .

Tại K t luận về việc định giá tài sản số 64/KLĐGTS, ngày 07/6/2022 và K t luận về việc định giá tài sản số 113/KLĐGTS, ngày 05/8/2022 của Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã NghS k t luận: 20 mâm giàn giáo C trộm cắp được ngày 28/3/2022 có giá trị 2.090.000 đ ng; 20 mâm giàn giáo C trộm cắp được ngày 10/4/2022 có giá trị 2.200.000 đ ng; 04 bộ giường t ng bằng sắt g m 16 khung có giá trị 1.144.000 đ ng; 20 cánh cửa bằng tôn có giá trị là 2.117.500 đ ng.

T ng giá trị tài sản C trộm cắp các l n nêu trên là 7.551.500 đ ng, trong đó có 03 l n vào các ngày 28/3/2022, 10/4/2022 và 15/4/2022 tài sản C trộm cắp có giá trị trên 2.000.000 đ ng.

Đối với anh Nguyễn Văn N1, là người đã mua toàn bộ số tài sản do Nguyễn Xuân C trộm cắp được mà có. Tuy nhiên, do anh N1 không bi t đ y là tài sản do Nguyễn Xu n C trộm cắp nên anh N1 không phạm tội.

Đối với V Thị Minh Phương, đã có hành vi mua lại một số tài sản do N1 mua của C trước đó. Tuy nhiên, do chị Phương không bi t ngu n gốc số tài sản trên nên c ng không vi phạm pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Xu n H, đã cho C mượn chi c xe mô tô BKS 36N-6407, tuy nhiên anh H không bi t C sử dụng xe mô tô của mình đi trộm cắp tài sản nên không phạm tội.

Về vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra đã thu gi tại nhà Nguyễn Văn N1 nh ng đ vật, tài liệu sau:

- 10 khung giường t ng bằng sắt, màu ghi xám;

- 20 cánh cửa bằng tôn mặt trước màu xanh, mặt sau màu trắng có t ng khối lượng 192,5kg;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen, BKS 36N-6407 cùng giấy tờ xe;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Focol, màu đen bạc, BKS 29X1 - 2820 cùng giấy tờ xe;

- 01 xe ki n an (loại xe kéo hai bánh tự ch ), đã qua sử dụng;

- 01 c n đ ng h màu xanh, loại 30kg, nhãn hiệu Nhơn Hòa, đã qua sử dụng;

Sau khi ti n hành định giá tài sản và xác minh ngu n gốc phương tiện, tài sản, xét thấy không ảnh hư ng đ n quá trình giải quy t vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại các đ vật, tài liệu trên cho chủ s h u theo quy định.

Về dân sự: Nguyễn Xu n C đã thỏa thuận b i thường toàn bộ thiệt hại cho Công ty C ph n Llm 18, người bị hại không có yêu c u gì thêm về d n sự.

Bản cáo trạng số: 126/CT – VKSNS ngày 19/9/2022 của VKSND thị xã NghS, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Xu n C về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của BLHS.

*Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 65 của BLHS. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xu n C phạm tội Trộm cắp tài sản .

- Mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Xu n C là từ 12 tháng đ n 15 tháng tù nhưng cho hư ng án treo. Thời gian thử thách là từ 24 tháng đ n 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo về cho UBND phường NgB để quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

- Vê d n sự: Bị cáo và người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thỏa thuận b i thường xong. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu c u gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã NghS xử lý đúng quy định pháp luật. Đề nghị HĐXX không xem xét.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thống nhất với tội danh mà VKSND thị xã NghS, tỉnh Thanh Hóa truy tố, không có tranh luận gì. Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thị xã NghS, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã NghS, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng khác không có ý ki n hoặc khi u nại gì về hành vi, quy t định của cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quy t định tố tụng của cơ quan ti n hành tố tụng và người ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo Nguyễn Xuân C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa c ng như lời khai tại CQĐT, phù hợp với lời khai của nh ng người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội. Tại phiên toà, đại diện VKSND thị xã NghS, tỉnh Thanh Hóa thực hành quyền công tố vẫn gi nguyên quy t định truy tố. Do đó, HĐXX có đủ cơ s k t luận Nguyễn Xu n C phạm tội Trộm cắp tài sản , tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS.

Xét tính chất vụ án: Bị cáo là người có đủ năng lực về mọi mặt để nhận thức được Trộm cắp tài sản là hành vi phạm pháp luật và là tội phạm. Song, chỉ vì lòng tham của bản th n lại thấy được sự sơ h của nhà th u trong việc quản lý tài sản và thấy quá dễ dàng để ki m tiền một cách bất chính mà bị cáo đã bất chấp tất cả quy định của pháp luật để thực hiện phạm tội. Với mục tiêu phát triển kinh t của địa phương, thì việc đưa ra các chính sách, tiềm năng s n có để thu hút các nhà đ u tư, nhà th u không phải là việc đơn giản thì hành vi phạm tội của bị cáo gây ra đã không nh ng x m phạm đ n quyền s h u về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn g y bất an, lo lắng trong qu n chúng nh n d n nói chung và đối với các nhà đ u tư, nhà th u tại địa phương nói riêng. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử, buộc bị cáo phải chịu một hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã g y ra là c n thi t.

Xét về nh n th n và các tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tất cả các l n phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và thực hiện giao nộp tang vật của vụ án cho CQĐT, thực hiện b i thường cho người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo lại có bố là người có công với cách mạng, hiện đang hư ng ch độ thương binh hạng. Bản th n bị cáo c ng có tham gia đóng góp tại địa phương đối với qu ủng hộ nạn nh n chất độc da cam, được chính quyền địa phương xác nhận và có văn bản đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được cải tạo tại địa phương. Do đó bị cáo được áp dụng các tình ti t giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS lượng giảm cho bị cáo một ph n hình phạt khi quy t định để bị cáo thấy được tính khoan h ng của pháp luật. Tuy nhiên, do bị cáo thực hiện phạm tội 04 l n, trong đó có 03 l n tài sản trộm cắp đều trên 2.000.000đ đủ điều kiện để kh i tố, truy tố. Nên bị cáo phải chịu tình ti t tăng nặng phạm tội nhiều l n quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Đối chi u với pháp luật hình sự, nghĩ không c n cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của BLHS cho bị cáo được cải tạo tại địa phương c ng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo c ng như phòng ngừa chung.

Về d n sự và xử lý vật chứng :

Đối với các tài sản đã thu h i được, sau khi định giá tài sản, xét thấy không ảnh hư ng đ n quán trình giải quy t vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã NghS đã ra Quy t định xử lý vật chứng trả lại cho chủ s h u hợp pháo theo đúng quy định nên HĐXX không xem xét. Cụ thể:

- Trả lại cho anh Nguyễn Xu n H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đen xám, BKS: 36N6 – 6407, số khung 12058Y541331, số máy HC12E0088498.

- Trả lại cho anh Nguyễn Văn N1: 01 xe mô tô nhãn hiệu FOCOL, màu sơn đen bạc, BKS: 29X1 – 2820, số khung 000784, số máy 007398; 01 xe ki n an, loại xe hai bánh, bằng kim loại, màu trắng; 01 c n đ ng h màu xanh, loại 30kg, nhãn hiệu Nhơn Hòa, c n c đã qua sử dụng.

- Trả lại cho Cty C ph n Llm18: 10 khung giường t ng bằng kim loại, màu trắng; 20 cánh cửa bằng kim loại mặt trước màu xanh, mặt sau màu trắng có t ng khối lượng là 192,5kg.

Về hình phạt b sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đ ng đ n 50 triệu đ ng.....". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo hiện tại không có nghề nghiệp, không có thu nhập. Do đó, HĐXX quy t định không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xu n C phải chịu án phí hình sự sơ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của BLHS.

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xu n C phạm tội Trộm cắp tài sản .

- Xử phạt: Nguyễn Xu n C 12 (M i hai) tháng tù nhưng cho hư ng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai m ơi t ) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo cho UBND phường NgB, thị xã NghS, tỉnh Thanh Hóa, để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, n u người được hư ng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 l n tr lên, Tòa án có thể quy t định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hư ng án treo.

- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23, mục 1 ph n I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án - Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Xu n C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm y t bản án.

Trường hợp bản án quy t định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án d n sự. Thời hiệu thi hành án d n sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án d n sự.

Cỡ chữ