vanban.org

Bản án 123/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 02/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tạ Xuân N phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Tạ Xuân N 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 15/7/2022. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Xuân N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tạ Xuân N phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:123/2022/HS-ST
Ngày:02/11/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Giang Thị Thúy Thu.

Các hội thẩm nhân dân:Bà Hoàng Thị Kim Phượng;

Ông Phạm Ngọc Lợi.

-Thư ký phiên toà: bà Phạm Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà:Ông Lê Quang Đạt- Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2022/TLST - HS ngày 07 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2022/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên:Tạ Xuân N,( tên gọi khác: Không) - Sinh năm 1985; tại huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn M, xã L, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông:Tạ Thanh C và bà:Nguyễn Thị H; Vợ, con: không;

Tiền án: Bản án số 23/2020/HSST, ngày 27/05/2020, Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 13/07/2021.

Tiền sự: Ngày 28/03/2022, Công an xã L, huyện G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0401060/QĐ-XPHC phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 29/4/2022 nộp tiền phạt.

Nhân thân:

+ Ngày 09/07/2010, Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định về việc đưa Tạ Xuân N người nghiện ma túy vào Trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội số 644/QĐ-CT thời gian 24 tháng. Chấp hành xong ngày 15/7/2012; (đã được xóa).

+ Ngày 08/01/2016 ,Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 01/2016/QĐ-TA thời gian 24 tháng. Chấp hành xong ngày 04/01/2018;(đã được xóa).

+ Ngày 10/01/2020, Công an xã L, huyện G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐXPxử phạt Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; (đã được xóa).

bị bắt tạm giữ ngày 15/07/2022, đến ngày 21/07/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay (có mặt).

*Bị hại:Anh Đoàn Mạnh T, sinh năm 1974 và chị Nguyễn Thu Th, sinh năm 1978; Cùng ĐKHKTT: phố A, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình và cùng nơi ở hiện nay: thôn C, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.( Vắng mặt).

* Người chứng kiến: Bà An Thị T1, sinh năm 1963;( vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nhau sau:

Tạ Xuân N là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để tiêu xài, sử dụng ma túy. Khoảng 08 giờ ngày 15/07/2022, Nghĩa đi xe Bus từ nhà xuống thành phố N, sau đó đi bộ theo các tuyến đường trên địa bàn thành phố N để tìm tài sản trộm cắp. Trên đường đi, Tạ Xuân N nhặt được 01 bộ vam phá khóa tự chế bằng kim loại, được hàn bằng 01 thanh kim loại hình trụ tròn đường kính 0,5cm, dài 11,5cm nối với 01 đoạn kim loại hình trụ tròn đường kính 0,5cm, một đầu được mài dẹp xoắn nhọn, đầu còn lại gắn vào một mảnh kim loại không rõ hình kích thước (4,5 x 4,5)cm cất giấu trong túi quần. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực đền thờ N thuộc địa phận thôn P, xã N, thành phố N, Tạ Xuân N phát hiện thấy 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RS Biển kiểm soát 35N6

- 0777 của anh Đoàn Mạnh T đang dựng trước cổng Đền, quan sát thấy không có người trông coi nên Tạ Xuân N đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô. Tạ Xuân N đi bộ đến chỗ dựng xe, lấy bộ vam phá khóa từ túi quần ra cắm vào ổ khóa xe của anh T, rồi dùng hai tay vặn bộ vam theo chiều kim đồng hồ để bẻ khóa. Sau khi mở được khóa điện, Tạ Xuân N điều khiển chiếc xe mô tô đi lên đường ĐT 491 để tẩu thoát. Anh T đang ngồi uống nước tại quán nước gần đó nhìn thấy Tạ Xuân N điều khiển xe mô tô của mình nên đã hô hoán đuổi theo. Lúc này Tổ công tác Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Ninh Bình đang làm nhiệm vụ gần đó đã đuổi theo bắt quả tang, thu giữ của Tạ Xuân N 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RS Biển kiểm soát 35N6

- 0777, số tiền 190.000 đồng, 01 bơm kim tiêm (chưa qua sử dụng), 01 vam phá khóa tự chế bằng kim loại, 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPOvỏ màu vàng bên trong lắp sim số 0339408280 , 01 khẩu trang y tế màu xanh - trắng. Anh Đoàn Mạnh T giao nộp 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô Biển kiểm soát 35N6 - 0777mang tên Nguyễn Thu Th.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 16/07/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Ninh Bình kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, mầu đỏ-đen-bạc, Biển kiểm soát 35N6-0777, số máy 648681, số khung Y486837, xe đã qua sử dụng từ năm 2006 có giá trị là 6.600.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại cho anh Đoàn Mạnh T 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RS Biển kiểm soát 35N6 - 0777 và Giấy chứng nhận đăng ký xe. Anh T không yêu cầu Tạ Xuân N phải bồi thường về việc làm hỏng ổ khóa điện.

Đối với số tiền 190.000 đồng, 01 bơm kim tiêm ( chưa qua sử dụng), 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO, 01 khẩu trang y tế, 01 bộ vam phá khóa tự chế bằng kim loại thu giữ của Tạ Xuân Nđược chuyển đến chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình để giải quyết cùng vụ án.

Quá trình điều tra, Tạ Xuân N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Tại bản cáo trạng số 114/CT- VKSNDTPNB, ngày06/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Tạ Xuân N ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản ” theo khoản 1Điều 173 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: bị cáo Tạ Xuân N phạm tội “ Trộm cắp tài sản” ;

- Áp dụng: khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS;Xử phạt: Bị cáo Tạ Xuân N từ 15 - 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ15/7/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, do bị cáo không có công ăn việc làm, nghề nghiệp.

- Xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 khẩu trang y tế, 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; 01 bộ vam phá khóa tự chế bằng kim loại, được hàn bằng 01 thanh kim loại hình trụ tròn đường kính 0,5cm, dài 11,5cm nối với 01 đoạn kim loại hình trụ tròn đường kính 0,5cm, một đầu được mài dẹp xoắn nhọn, đầu còn lại gắn vào một mảnh kim loại không rõ hình kích thước (4,5 x 4,5)cm thu giữ của Tạ Xuân N là công cụ, phương tiện phạm tội, là vật không có giá trị sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Tạ Xuân N: số tiền 190.000đồng, 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hộiquy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo Tạ Xuân N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đề nghị tiêu hủy 01 khẩu trang y tế, 01 bơm kim tiêm mà Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo do không có giá trị sử dụng là vật dùng một lần. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về tội danh, hình phạt đối với bị cáo: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với bản tự khai, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản xác định hiện trường, vật chứng thu giữ,lời khai của bị hại, người chứng kiến, kết luận định giá tài sản số38/KL-HĐĐGTS ngày 16/07/2022... Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ, ngày 15/07/2022, tại khu vực trước cổng Đền thờ N thuộc địa phận thôn P, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Tạ Xuân N đã có hành vi lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của anh ĐoànMạnh T trong việc quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RS, mầu đỏ-đen-bạc, Biển kiểm soát 35N6-0777 trị giá là 6.600.000 đồng.Hành vi của bị cáo Tạ Xuân N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 173 BLHS quy định “ Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm... ”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham, muốn có tiền để tiêu xài và mua ma túy sử dụng mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên cần phải xử lý nghiêm minh buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.

Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân xấu nhiều lần bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về tình tiết tăng nặng: ngày 27/05/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình kết án 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ra trại ngày 31/7/2021, tính đến ngày phạm tội 15/7/2022 bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nênđược áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử lý vi phạm hành chính và kết án về hành vi liên quan đến việc sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo vẫn không chịu rèn luyện, tu dưỡng mà để có tiền mua ma túy sử dụng bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp, do vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, mầu đỏ-đen-bạc, Biển kiểm soát 35N6-0777, số máy 648681, số khung Y486837 thu giữ của bị cá N và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thu Th thu giữ của anh Đoàn Mạnh T: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của vợ chồng anh ĐoànMạnh T và chị Nguyễn Thu Th nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại cho anh T là đúng quy định của pháp luật.

- Đối với số tiền 190.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO vỏ mầu vàng lắp sim số 0339408280 ( màn hình bị nứt, vỡ), 01 khẩu trang y tế mầu xanh - trắng, 01 bơm kim tiêm( chưa sử dụng) thu giữ của bị cá N: quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên bị cáo N đề nghị tiêu hủy 01 khẩu trang y tế, 01 bơm kim tiêm do không có giá trị sử dụng là vật dùng một lần nên theo đề nghị của bị cáo Hội đồng xét xử sẽ tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 bộ vam phá khóa tự chế bằng kim loại, được hàn bằng 01 thanh kim loại hình trụ tròn đường kính 0,5cm, dài 11,5cm nối với 01 đoạn kim loại hình trụ tròn đường kính 0,5cm, một đầu được mài dẹp xoắn nhọn, đầu còn lại gắn vào một mảnh kim loại không rõ hình kích thước (4,5 x 4,5)cm thu giữ của bị cáo N: Đây là công cụ phạm tội của bị cáo, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Ninh Bình đã trả lại tài sản mà bị cáo N đã trộm cắp là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, mầu đỏ-đen-bạc, Biển kiểm soát 35N6-0777 cho bị hại, phần ổ khóa điện của xe mô tô bị hỏng (do bị cáo N dùng vam phá hỏng). Sau khi nhận lại tài sản bị hại không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, bồi thường về ổ khóa điện bị hỏng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 của Bộ luật hình sự.Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Bị cáo Tạ Xuân N phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Bị cáo Tạ Xuân N 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 15/7/2022.

- Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ vam phá khóa tự chế bằng kim loại, được hàn bằng 01 thanh kim loại hình trụ tròn đường kính 0,5cm, dài 11,5cm nối với 01 đoạn kim loại hình trụ tròn đường kính 0,5cm, một đầu được mài dẹp xoắn nhọn, đầu còn lại gắn vào một mảnh kim loại không rõ hình kích thước (4,5 x 4,5)cm; 01 khẩu trang y tế mầu xanh - trắng (đã qua sử dụng), 01 bơm kim tiêm ( chưa sử dụng).

Trả lại cho bị cáo Tạ Xuân N: số tiền 190.000đ ( một trăm chín mươi nghìn đồng), 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO, vỏ màu vàng, lắp sim số 0339408280 ( màn hình bị nứt, vỡ).

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/10/2022 và ủy nhiệm chi lập ngày 26/10/2022giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

- Về án phí: Bị cáo Tạ Xuân N phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáocó quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ