- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội Gi t người (chưa đạt).
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 123/2022/HS-ST Ngày 23-8-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quân Vương
Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quốc Dũng;
Bà Lê Thị Mỹ;
Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư T a án nhân dân t nh Bình Dương.
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân t nh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Thoại - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2022 tại T a án nhân dân t nh Bình Dương t
sơ thẩm công hai v án hình sự sơ thẩm th l số: 56/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2022 theo Quy t định đưa v án ra t
số: 92/2022 QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Văn T (tên thường gọi là Bảo) sinh năm 1995 tại t nh Hà T nh; nơi cư trú: thôn S ã T huyện L t nh Hà T nh; nghề nghiệp: hông; trình độ văn hóa (học vấn): 09 12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: hông; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (đã ch t) và bà Lê Thị H; tiền án: hông tiền sự: hông; nhân thân: hông; bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 06 10 2021 cho đ n nay; có mặt.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Trần Văn T: bà Phạm Thị L - Luật sư của Văn ph ng Luật sư Phạm Thị L thuộc Đoàn luật sư t nh Bình Dương; có mặt.
- Bị hại: ông Nguyễn Ngọc Ẩ, sinh năm 1997; nơi thường trú: ấp Long Bình 2 ã A huyện N t nh Ninh Thuận; nơi tạm trú: hu phố T phường T thị ã T t nh Bình Dương; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Mai Thị Kim H sinh năm 2002; nơi cư trú: ã Đạo L thành phố P, t nh Ninh Thuận; có đơn in vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Văn C sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp B ã A, huyện N, t nh N; có mặt.
3. Bà Lê Thị H sinh năm 1974; nơi cư trú: thôn S ã T huyện L t nh Hà T nh; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Ngọc H sinh năm 2002; vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 2006; vắng mặt.
3. Bà Trịnh Thị H sinh năm 1967; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong h sơ v án và diễn bi n tại phiên t a nội dung v án được tóm tắt như sau:
Trần Văn T và anh Nguyễn Ngọc Ẩ là bạn bè. T và Ẩ cùng ở chung dãy nhà trọ của bà Trịnh Thị H tại hu phố Tân H phường Tân V thị ã T t nh Bình Dương.
Đêm ngày 14 12 2020 T bị đau đầu và mất ngủ, T nghi ngờ anh Ẩn bỏ bùa mình nên nảy sinh định đánh anh Ẩ để trả thù. Thực hiện định trên hoảng 07 giờ 00 phút ngày 15 12 2020 T lấy 01 con dao Thái lan dài hoảng 20 cm cán bằng nhựa màu vàng lưỡi dao bằng im loại màu trắng mũi nhọn tại ph ng trọ của mình r i đi ra đầu đường vào hu nhà trọ ng i đợi anh Ẩ với m c đích chờ anh Ẩ đi làm để đánh. Khoảng 30 phút sau anh Ẩ điều hiển e mô tô chở vợ tên Mai Thị Kim H đi từ nhà trọ của bà H ra để đi làm. Khi anh Ẩ chở chị H chạy e ra đ n đầu đường thì gặp T đang ng i tại đây. Lúc này T đứng dậy chạy từ phía sau đ n bên trái của Ẩ r i dùng tay trái cầm dao đâm liên ti p 03 nhát vào vùng ngực trái của anh Ẩ, làm anh Ẩ bị t ngã r i vùng dậy chạy vào nhà của bà H. T cầm dao đuổi theo để đánh anh Ẩ thì anh Nguyễn Minh T đang ng i uống nước cùng với anh Nguyễn Ngọc H sinh năm 2002 gần đó chạy đ n can ngăn T. T cầm dao bỏ chạy trốn hỏi hiện trường đ n ngày 06 10 2021 T bị bắt. Riêng anh Ẩ được gia đình đưa đ n Bệnh viện đa hoa t nh Bình Dương cấp cứu và điều trị đ n ngày 24 12 2020 thì uất viện.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 13979 (cấp lại lần 2) ngày 11 3 2021, của Bệnh viện Đa hoa t nh Bình Dương đã ác định thương tích của anh Nguyễn Ngọc Ẩ như sau:
- Bệnh t nh niêm h ng huy t áp 110 70 tim đều phổi rõ bệnh mềm ấn đau hạ sườn trái 03 v t thương ngực trái ích thước lần lượt là 1cm 01cm và 02cm.
- Siêu âm b ng: dịch ổ b ng lượng ít trần dịch màng phổi bên trái lượng ít.
- Siêu âm tim: chức năng tâm thu thất trái bảo t n EF70%.
- XQ ngực: mờ nhẹ trường phổi (T).
Tại Bản t luận giám định pháp y về thương tích số 122 2021 GĐPY của Trung tâm Pháp y t nh Bình Dương ác định thương tích của bị hại Nguyễn Ngọc Ẩ như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- 03 (ba) v t thương vùng ngực trái: 02 v t thương hoảng liên sườn IV ích thước (1 2 x 0 2)cm và (2 x 0 3)cm; 01 v t thương hoảng liên sườn VII ích thước (1 x 0 3)cm sẹo lành. Thấu ngực b ng: thủng gan hạ phân thùy III thủng cơ hoành trái tràn máu màng phổi trái đã phẩu thuật hâu gan hâu cơ hoành dẫn lưu màng phổi trái v t mổ đường giữa b ng trên dưới rốn 18 0 7cm v t dẫn lưu màng phổi 2 5 0 4cm sẹo lành.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của bị hại Nguyễn Ngọc Ẩn là 49% (bốn mươi chín phần trăm).
3. Cơ ch hình thành v t thương:
- 02 v t thương ngực trái hoảng liên sườn IV: sẹo chiều từ trên uống hướng từ trước ra sau bờ sắc gọn hả năng do vật sắc hoặc sắc nhọn gây ra.
- V t thương ngực trái hoảng liên sườn VII thấu ngực b ng: sẹo chiều từ dưới lên hướng từ trước ra sau bờ sắt gọn hả năng do sắc nhọn gây ra.
Về vật chứng: đối với dao Thái Lan dài hoảng 20 cm cán bằng nhựa màu vàng lưỡi dao bằng im loại màu trắng mũi nhọn là hung hí Thành s d ng gây án trên đường bỏ trốn Thành đã n m bỏ cách hiện trường hoảng 500m. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ti n hành truy tìm nhưng hông thu h i được.
Cáo trạng số 62 CT-VKS.P2 ngày 27 4 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân t nh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn T về tội Gi t người theo điểm n hoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên t a bị cáo hai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng mà đại diện Viện Kiểm sát đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quy t định Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội các tình ti t tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Bị cáo và bị hại là bạn bè thân thi t hông có mâu thuẫn nhưng bị cáo đã dùng dao đâm bị hại 03 nhát bị hại bỏ chạy nhưng bị cáo vẫn đuổi theo cho đ n hi có người can ngăn thì bị cáo mới dừng lại; sau hi gây án bị cáo trốn hắp nơi gây hó hăn cho cơ quan điều tra trong việc l tội phạm mặc dù gia đình huyên bảo bị cáo ra đầu thú nhưng bị cáo vẫn bỏ trốn nên cần phải bị cáo mức án thật nghiêm. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm với hành vi phạm tội do mình gây ra.Về tình tiêt giảm nhẹ: bị cáo có nhân thân tốt phạm tội lần đầu thành hẩn hai báo ăn năn hối cải; tác động gia đình b i thường cho bị hại; bị hại in giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về tình ti t tăng nặng: hông có. Từ những căn cứ nêu trên đề nghị áp d ng điểm n hoản 1 Điều 123; Điều 15; điểm b, s hoản 1 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017, phạt bị cáo mức hình phạt từ 09 năm đ n 11 năm tù.
Về phần trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Ngọc Ẩ yêu cầu Trần Văn T b i thường tổng số tiền 30.000.000 đ ng. Gia đình Trần Văn T đã b i thường cho bị hại Ẩ số tiền 15.500.000 đ ng. Tại phiên t a bị hại yêu cầu bị cáo ti p t c b i thường 14.500.000 đ ng c n lại bị cáo đ ng b i thường nên đề nghị Hội đ ng t ghi nhận.
Người bào chữa Phạm Thị L trình bày nội dung bào chữa cho bị cáo: thống nhất quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp d ng đối với bị cáo đề nghị Hội đ ng t
em t mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện iểm sát.
Bị cáo T thống nhất i n của người bào chữa và hông có i n tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: trong thời gian tạm giam bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, in Hội đ ng t
em t giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình h a nhập cộng đ ng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được thẩm tra t hỏi tranh luận tại phiên t a Hội đ ng t nhận định như sau:
Về tố t ng: các hành vi của Điều tra viên quy t định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an t nh Bình Dương Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân t nh Bình Dương trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo người bào chữa cho bị cáo bị hại hông có có i n hoặc hi u nại về hành vi quy t định của cơ quan ti n hành tố t ng người ti n hành tố t ng. Do đó các hành vi quy t định tố t ng của cơ quan ti n hành tố t ng người ti n hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên t a bị cáo Trần Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân t nh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu chứng cứ hác tại h sơ. Do đó Hội đ ng t có đủ cơ sở t luận: xuất phát từ việc Trần Văn T nghi ngờ anh Nguyễn Ngọc Ẩ bỏ bùa hại mình nên vào hoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2020, tại đầu đường đi vào hu nhà trọ Trịnh Thị H, thuộc hu phố T phường Tân V nh H thị ã T t nh Bình Dương. T đã dùng 01 dao Thái Lan dài hoảng 20cm cán bằng nhựa màu vàng lưỡi dao bằng kim loại màu trắng mũi nhọn là hung hí nguy hiểm đâm liên ti p 03 nhát vào vùng ngực trái gây thấu ngực b ng, thủng gan hạ phân thùy III thủng cơ hoành trái tràn máu màng phổi trái tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của bị hại Nguyễn Ngọc Ẩ là 49%. Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn T đủ y u tố cấu thành tội Gi t người theo quy định tại điểm n hoản 1 Điều 123 và Điều 15 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân t nh Bình Dương truy tố bị cáo phạm tội Gi t người với tình ti t định hung “Có tính chất côn đồ” theo điểm n hoản 1 Điều 123 và Điều 15 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho ã hội. Về nhận thức bị cáo bi t rõ hành vi dùng dao mũi nhọn là hung hí nguy hiểm đâm liên ti p vào vùng ngực của bị hại có hả năng tước đoạt mạng sống của bị hại là hành vi trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố thực hiện tội phạm bất chấp hậu quả ảy ra thể hiện bản tính côn đ
thức em thường pháp luật bị hại hông ch t là ngoài muốn của bị cáo và do được người ung quanh phá c a cứu ịp thời. Hành vi phạm tội của bị cáo đã âm phạm trực ti p đ n tính mạng, sức hỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ ảnh hưởng đ n tình hình trật tự trị an tại địa phương gây tâm l hoang mang cho người dân sinh sống tại hu vực. Do vậy cần phải phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm hắc nhằm có tác d ng răn đe giáo d c đối với các bị cáo và ph ng ngừa chung cho ã hội. Tuy nhiên hi quy t định hình phạt cần em t tính chất, mức độ hành vi phạm tội các tình ti t tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: không có.
Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: trong quá trình điều tra bị cáo có thái độ thành hẩn hai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tác động gia đình b i thường một phần thiệt hại cho bị hại và tại phiên t a bị hại in giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó cần áp d ng cho bị cáo các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s hoản 1 và hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Ý i n của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh Bình Dương về tội danh Điều luật và mức hình phạt như đề nghị là phù hợp có căn cứ chấp nhận.
Ý i n của người bào chữa cho bị cáo về đề nghị em t mức hình phạt thấp hơn đề nghị là hông có căn cứ chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Ngọc Ẩ yêu cầu Trần Văn T b i thường tổng số tiền 30.000.000 đ ng. Gia đình Trần Văn T đã b i thường cho bị hại Ẩ số tiền 15.500.000 đ ng. Tại phiên t a bị hại yêu cầu bị cáo ti p t c b i thường 14.500.000 đ ng c n lại, bị cáo đ ng b i thường nên Hội đ ng t ghi nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Trần Văn T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội Gi t người (chưa đạt).
2. Về hình phạt: áp d ng điểm n hoản 1 Điều 123 và Điều 15; các điểm b, s hoản 1 và hoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
X phạt: bị cáo Trần Văn T 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2021.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Áp d ng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584 585 591 và 593 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Văn T có trách nhiệm b i thường cho bị hại Nguyễn Ngọc Ẩ 14.500.000 đ ng.
4. Về án phí sơ thẩm:
Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015; Nghị quy t số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Thanh M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đ ng án phí hình sự sơ thẩm và 725.000 (bảy trăm hai mươi lăm nghìn) đ ng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi ngh a v liên quan có mặt tại phiên t a có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi ngh a v liên quan vắng mặt có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm y t theo quy định.
| Nơi nhận: - T a án nhân dân tối cao; - T a án nhân dân cấp cao tại Thành phố H Chí Minh; - Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố H Chí Minh; - Viện Kiểm sát nhân dân t nh Bình Dương; - Ph ng PC01 - Công an t nh Bình Dương; - Ph ng PV06 - Công an t nh Bình Dương; - C c Thi hành án Dân sự t nh Bình Dương; - Sở Tư pháp t nh Bình Dương; - Bị cáo người bào chữa (6); - Ủy ban nhân dân cấp ã nơi bị cáo cư trú; - Trại Tạm giam Công an t nh Bình Dương; - Ph ng Kiểm tra nghiệp v và Thi hành án (3); - Tổ Hành chính tư pháp (2); - Lưu: h sơ v án LTH 22. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Quân Vƣơng |