- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức đối với Đỗ Thanh H - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu,…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh H (N) phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 341 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 123/2022/HS-ST Ngày: 10-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Nguyện
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thiểu.
2. Bà Huỳnh Thị Phương Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lam – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 11 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 130/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Đỗ Thanh H, tên gọi khác: N; sinh năm 1974, tại Campuchia; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: khu phố 3, thị trấn BC, huyện BC, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 5/12; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không có; con ông Đỗ Thanh N (chết) và bà Mai Thị Tuyết N (chết); vợ: Nguyễn Thị Kim M, con: có 02 người; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo tại ngoại (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5-2021, do muốn có giấy phép lái xe để sử dụng xin lái xe đưa rước công nhân nên Đỗ Thanh H tìm trên mạng xã hội Facebook liên lạc với người nam không rõ lý lịch, cung cấp thông tin để mua giấy phép lái xe hạng E giả với giá 3.000.000 đồng. Khoảng 01 tuần sau, H nhận được Giấy phép lái xe hạng E số 790062022961, Họ tên: Đỗ Thanh H, ngày sinh: 01-01-1974; nơi cư trú: Khu phố 3, thị trấn BC, huyện BC, tỉnh Tây Ninh; cấp ngày 20-10-2020.
Ngày 09-3-2022, H mua xe ôtô khách biển số 53S-2958, rồi xin anh Nguyễn Văn T1 cho cùng đưa rước công nhân từ huyện BC đến khu công nghiệp Linh Trung III và ngược lại. Do biết H chỉ có giấy phép lái xe hạng D nên anh T1 đã yêu cầu H thuê tài xế có đủ điều kiện lái xe ôtô khách 30 chỗ trở lên mới được đưa rước công nhân. Sau đó, H thuê anh Nguyễn Ngọc T2 điều khiển xe ôtô khách biển số 53S-2958 để đưa rước công nhân.
Ngày 28-7-2022, anh T2 không điều khiển xe đi rước công nhân do H uống rượu và cãi nhau với anh T2 nên H điều khiển xe ôtô khách biển số 53S-2958 đi rước công nhân về. Đến 21 giờ cùng ngày, khi H điều khiển xe đến khu vực thuộc khu phố NA, thị trấn GD, huyện GD thì bị Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tây Ninh yêu cầu dừng xe kiểm tra phát hiện H vi phạm nồng độ cồn. Lúc này, H xuất trình giấy phép lái xe hạng E. Do nghi ngờ giấy phép lái xe giả nên Cảnh sát giao thông tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính tạm giữ giấy phép lái xe nêu trên và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Dầu xử lý.
Quá trình điều tra, H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Kết luận giám định số 908 ngày 05-8-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Giấy phép lái xe hạng E số 790062022961, Họ tên: Đỗ Thanh H, ngày sinh: 01-01-1974; Nơi cư trú: Khu phố 3, thị trấn BC, huyện BC, tỉnh Tây Ninh, cấp ngày 20-10-2020 là giấy phép lái xe giả.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: không có.
Về kê biên tài sản: Do H không có sở hữu tài sản nên Cơ quan điều tra không kê biên.
Tại Cáo trạng số 113/CT-VKSGD ngày 17-10-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu đã truy tố bị cáo Đỗ Thanh H về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh H (N) phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Thanh H (N) từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định: Lúc 21 giờ ngày 28-7-2022, tại khu phố NA, thị trấn GD, huyện GD, Đỗ Thanh H có hành vi sử dụng giấy phép lái xe hạng E giả với mục đích để lái xe và xuất trình khi bị Cảnh sát giao thông kiểm tra thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào ... sử dụng ... giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
...”.
Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý hành chính của Nhà nước, ảnh hưởng đến sự hoạt động bình thường và uy tín của các cơ quan chức năng của Nhà nước. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi làm giả giấy phép lái xe là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có cha vợ, mẹ vợ là người có công với cách mạng, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Về hình phạt: Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do đó, khi quyết định hình phạt, không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, xử phạt bị cáo mức án tù, nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Do bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh H (N) phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh H (N) 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Thanh H (N) cho Ủy ban nhân dân thị trấn BC, huyện BC, tỉnh Tây Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Đỗ Thanh H (N) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2. Án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT. TANDTC (Vụ 1); - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh; - Phòng lý lịch STP tỉnh Tây Ninh; - Phòng PV 06 CA tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Gò Dầu; - Công an huyện Gò Dầu (02 bản); - Nhà tạm giữ công an huyện Gò Dầu; - CC THADS h. Gò Dầu; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Nguyện |