vanban.org

Bản án 123/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Cẩm T được ly hôn với anh Võ Vũ L.

Về con chung: 1 Giao con chung là Võ Khánh B, sinh ngày 27/4/2016 và cháu Võ Khánh M, sinh ngày 22/3/2020 cho anh Võ Vũ L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Cháu B và cháu M hiện đang sống cùng anh L nên được giữ nguyên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị Cẩm Th - Võ Vũ L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Cẩm T được ly hôn với anh Võ Vũ L.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ R
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16/12/2022
“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Nhạn

2. Bà Cao Thị Mỹ Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 421/2022/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Cẩm T, sinh năm 1997 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu

Nơi ở hiện nay: Ấp A, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang

- Bị đơn: Anh Võ Vũ L, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Dương Thị Cẩm T trình bày: Chị T và anh Võ Vũ L chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 05/4/2016, tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu. Anh chị có 02 con chung: Cháu Võ Khánh B, sinh ngày 27/4/2016 và cháu Võ Khánh M, sinh ngày 22/3/2020. Trong thời gian chung sống vợ chồng, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do anh L thường xuyên uống rượu không chăm lo kinh tế gia đình và không chăm lo đời sống vợ chồng. Đến cuối năm 2021chị T và anh L sống ly thân cho đến nay. Do đó,chị T nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh L không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L. Về con chung: Do hai cháu B và M từ khi sinh ra cho đến nay hai cháu sống với anh L nên khi ly hônchị T đồng ý tiếp tục giao hai cháu cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con hiện tại kinh tếchị T gặp nhiều khó khăn, chưa có công việc ổn định nên chị yêu cầu không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Võ Vũ L trình bày: Về quan hệ hôn nhân gia đình và con chung anh L thống nhất với lời trình bày củachị T. Trong thời gian chung sống vợ chồng giữa anh L vàchị T gặp nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, naychị T yêu cầu ly hôn anh L cũng đồng ý. Về con chung: Do hai cháu B và M từ khi sinh ra cho đến nay hai cháu sống với anh L nên khi ly hôn anh L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầuchị T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng không có lý do là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu củachị T được ly hôn với anh L. Về con chung: Giao cháu Võ Khánh B, sinh ngày 27/4/2016 và cháu Võ Khánh M, sinh ngày 22/3/2020 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục. Chị T không phải chấp dưỡng nuôi con do anh L không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị T và anh L tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 05/04/2016 theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nay chị T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh L và giải quyết về con chung đây thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn”, anh L hiện đang cư trú tại ấp 2, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Chị T là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; anh L là bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn.

Về hôn nhân:

Sau khi kết hôn hợp pháp,chị T và anh L sống với nhau hòa thuận một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là anh L thường xuyên uống rượu và không chăm lo kinh tế đời sống vợ chồng. Do đó, khoảng năm 2021chị T đã về sống cùng cha mẹ ruột chị tại ấp 3, xã Long Trị, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang cho đến nay. Hiện nay chị T xác định vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, đời sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị T đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh L.

Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án đã hòa giải đểchị T và anh L đoàn tụ nhưngchị T cương quyết ly hôn vì nhận thấy không còn tình cảm, cả hai không còn quan tâm nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Còn anh L cũng đồng ý ly hôn vớichị T vì xét thấy vợ chồng không còn tình cảm vợ nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân phải dựa trên cơ sở tình yêu thương của cả hai vợ chồng, cảchị T và anh L đều cương

quyết

xin

ly

hôn,

giữa

chị

T

và

anh L cũng sống ly thân thời gian dài, vì vậy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của anh chị đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn củachị T là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.

Về con chung:chị T và anh L xác định trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Võ Khánh B, sinh ngày 27/4/2016 và cháu Võ Khánh M, sinh ngày 22/3/2020.

Căn cứ Điều khoản 3 Điều 81 Luật hô nhân và gia đình quy định “ Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, hoặc cha và mẹ có thoả thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Hội đồng xét xử xét thấy,chị T và anh L đều xác định hiện tại hai cháu Băng và Mây đang sống với anh L, được anh L chăm sóc trực tiếp và cho các cháu đi học, hai cháu cũng phát triễn bình thường, nên khi ly hôn mặc dù cháu M hiện tại chưa đủ 36 tháng tuổi nhưng chị T đồng ý giao cháu M cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Mặc khác, hiện tại chị T chưa có việc làm ổn định, kinh tế gặp nhiều khó khăn, còn anh L thì có việc làm ổn định, thu nhập hàng tháng khá, hai cháu cũng sống với nhau từ khi sinh ra cho đến nay. Do đó để tránh làm sáo trộn đời sống và sự phát triển tâm sinh lý của các cháu, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ giao cháu B và cháu M cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật.chị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh L không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung:chị T và anh L xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không có căn cứ xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng chị T phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51 và các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Cẩm T được ly hôn với anh Võ Vũ L.

2. Về con chung:

2.1 Giao con chung là Võ Khánh B, sinh ngày 27/4/2016 và cháu Võ Khánh M, sinh ngày 22/3/2020 cho anh Võ Vũ L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Cháu B và cháu M hiện đang sống cùng anh L nên được giữ nguyên.

2.2 Chị Dương Thị Cẩm T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

2.3 Chị Dương Thị Cẩm T không phải cấp dưỡng nuôi con, do anh L không yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Dương Thị Cẩm T và anh Võ Vũ L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm buộc chị Dương Thị Cẩm T có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị Dương Thị Cẩm T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu số: 0004398, ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã R, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí toàn bộ.

Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ