vanban.org

Bản án 123/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Q đối với ông Danh V.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Q được ly hôn với ông Danh V. Về con chung: Giao cháu Danh Thị Kiều Duyên, sinh ngày 09/4/2018 cho bà Lâm Thị Q tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Danh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn bà Lâm Thị V và bị đơn anh Danh V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Q đối với ông Danh V.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 19/9/2022.
V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN - TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Hồng Xuyên

Ông Danh On

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền Mao - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 205/2022/TLST–HNGĐ, ngày 01 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2022/QĐXXST–HNGĐ, ngày 09 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Q, sinh ngày 01/01/1998. Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, (vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Danh V, sinh ngày 26/6/1995. Địa chỉ: Ấp PH, xã LN, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 21 tháng 6 năm 2022 và lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, bà Lâm Thị Q là nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2017, bà Q và ông Danh V tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, đến ngày 31/10/2017 được Ủy ban nhân dân xã Lộc Ninh, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn. Trong quá trình chung sống, có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn ngày càng nhiều nên từ tháng 5 năm 2021 đến nay vợ chồng không ở chung một nhà. Nay bà Q yêu cầu được ly hôn với ông Vĩ; Về quan hệ con chung: Bà Q xác định có 01 con chung là cháu Danh Thị Kiều Duyên, sinh ngày 09/4/2018, hiện cháu đang ở cùng bà Q. Khi ly hôn, bà Q yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông Vĩ cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là ông Danh V: Tòa án có tiến hành giao Thông báo thụ lý và tiến hành lấy lời khai đối với ông Vĩ nhưng ông Vĩ không có mặt ở địa phương nên không thể tiến hành giao Thông báo thụ lý và không thể tiến hành lấy lời khai đối với ông Vĩ được. Do đó, Tòa án tiến hành niêm yết các thủ tục theo quy định pháp luật cho ông Vĩ. Chính quyền địa phươg xác định: Ông Vĩ vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp PH, xã LN, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu và hiện tại không có ở địa phương nhưng lâu lâu ông Vĩ có về địa phương một lần.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn; Về nội dung: Sau khi phân tích yêu cầu khởi kiện, những quy định của pháp luật, đề nghị: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lâm Thị Q được ly hôn với ông Danh V. Về con chung giao cháu Danh Thị Kiều Duyên, sinh ngày 09/4/2018 cho bà Q tiếp tục nuôi dưỡng, ông Vĩ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Bà Lâm Thị Q khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Danh V và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Danh V có nơi đăng ký thường trú tại ấp PH, xã LN, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[3] Nguyên đơn bà Lâm Thị Q có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt, bị đơn Danh V vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.

Xét đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Lâm Thị Q, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà Lâm Thị Q và ông Danh V, tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng và được Ủy ban nhân dân xã Lộc Ninh, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc LIêu cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 31/10/2017 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông Vĩ là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống, bà Q và ông Vĩ có phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn ngày càng nhiều nên bà cả hai không còn chung sống một nhà. Tòa án có tiến hành xác minh được biết giữa bà Q và ông Vĩ có phát sinh mâu do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho bà Q được ly hôn với ông Vĩ.

Về quan hệ con chung: Bà Q xác định có một con chung là cháu Danh Thị Kiều Duyên, sinh ngày 09/4/2018, hiện cháu đang ở cùng bà Q. Khi ly hôn, bà Q yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông Vĩ cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Duyên hiện đang sống ổn định với bà Q và cháu còn nhỏ nên giao cháu Duyên cho bà Q tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Vĩ không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về quan hệ tài sản: Bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 51, 53, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Q đối với ông Danh V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Q được ly hôn với ông Danh V.

2. Về con chung: Giao cháu Danh Thị Kiều Duyên, sinh ngày 09/4/2018 cho bà Lâm Thị Q tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Danh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung: Bà Lâm Thị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Bà Lâm Thị Q phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Q đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006413 ngày 01/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay được chuyển thu án phí.

Bà Lâm Thị Q và ông Danh V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ