vanban.org

Bản án 123/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Về hôn nhân: Bà Lê Thị Thuỳ L được ly hôn với ông Nguyễn Văn S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà L ly hôn với ông S"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 14/9/2022
V/v tranh chấp HNGĐ - Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Hữu Trí

2. Ông Huỳnh Văn Năng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân Gia đình thụ lý số 314/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 153/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thùy L, sinh năm 1986 (Có Đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 4, ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang.

Tạm trú: Tổ 22, ấp P, xã H, huyện C, An Giang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 4, ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, Bản tự khai cùng ngày 02/6/2022 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn - Bà Lê Thị Thuỳ L trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông S kết hôn với nhau vào năm 2004, hôn nhân do mai mối, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 10/3/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Cần Đăng, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Sau khi kết hôn ông bà về chung sống bên gia đình cha mẹ chồng. Đến năm 2008, ông bà có nhà ra riêng cất trên đất của cha mẹ chồng. Ông bà chung sống êm ấm được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng trong cuộc sống, ông S sinh ra ăn chơi không chí thú làm ăn, lại sinh ra ham mê cờ bạc gây nợ nần… Từ đó, dẫn đến bất đồng trong tình cảm vợ chồng, không tôn trọng nhau, không còn tin tưởng nhau nữa, giữa ông bà luôn bất hoà, gia đình không còn êm ấm. Bà và ông S đã ly thân nhau từ tháng 9 năm 2020 đến nay. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông S.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Thị Bảo T1, sinh ngày 08/12/2008; Nguyễn Lê Hoài T2, sinh ngày 09/8/2015 và Nguyễn Lê Hoài N, sinh ngày 13/10/2019. Hiện các cháu đang sống với bà, sau khi ly hôn bà yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

- Về tài sản chung của vợ chồng: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn – Ông Nguyễn Văn S: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông không đến Tòa án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà L.

- Tài liệu, chứng cứ do Tòa án tiến hành thu thập được: Biên bản không lấy được lời khai của ông S ngày 26/7/2022; Biên bản xác minh bà Nguyễn Thị C về tình trạng hôn nhân của bà L và ông S ngày 26/7/2022.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn: Vắng mặt và có Đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

+ Việc chấp hành pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện đúng trình tự tố tụng, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về hôn nhân: Bà L được ly hôn với ông S; Về con chung: Giao 03 con chung là Nguyễn Thị Bảo T1, sinh ngày 08/12/2008; Nguyễn Lê Hoài T2, sinh ngày 09/8/2015 và Nguyễn Lê Hoài N, sinh ngày 13/10/2019 cho bà L được tiếp tục nuôi dưỡng, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu; Về tài sản chung của vợ chồng bà L yêu cầu tự thoả thuận, về nợ chung của vợ chồng bà L xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà L phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

1.1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Lê Thị Thuỳ L có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn S do vậy xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1.2 Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Nguyễn Văn S có nơi cư trú tại Tổ 4, ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

1.3 Về sự có mặt của các đương sự: Nguyên đơn - Bà L vắng mặt tại phiên toà, tuy nhiên bà đã có Đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp theo quy định nên được chấp nhận; Bị đơn – Ông S đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về phiên đối chất, Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông S vắng mặt tại phiên toà đến lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà L và ông S.

Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về hôn nhân: Bà L và ông S có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi xảy ra tranh chấp.

Quá trình chung sống giữa bà L và ông S xảy ra mâu thuẫn không thể khắc phục, theo bà L nguyên nhân là do bất đồng trong cuộc sống, ông S ăn chơi không chí thú làm ăn, lại sinh ra ham mê cờ bạc gây nợ nần dẫn đến bất đồng trong tình cảm vợ chồng, giữa ông bà luôn bất hoà, gia đình không còn êm ấm. Bà và ông S đã ly thân nhau từ 9 năm 2020 đến nay. Nay bà L kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông S.

Theo Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà L với ông S ngày 26/7/2022 (Bút lục 39), bà Nguyễn Thị C là mẹ ruột của ông S cung cấp: Sau khi cưới bà L và ông S về ở bên gia đình bà đến khoảng thời gian cách đây 6, 7 năm vợ chồng bà L và ông S đi Bình Dương làm ăn, S đi làm đem tiền về nuôi vợ con, thời gian trước S có chơi đá gà dẫn đến vợ chồng lụt đụt nên S hứa hẹn sửa đổi và tu chí làm ăn, từ đó đến nay bà thấy S tu chí làm ăn và không chơi nữa. Hiện tại vợ chồng bà L và ông S có mâu thuẫn là do bà L có quan hệ tình cảm với người khác. Vợ chồng L và S trước đây từng mâu thuẫn và thôi tới thôi lui mấy lần. Khi biết chuyện con cái bà có tới nhà bên L để khuyên con dâu đừng ly hôn nhưng L kiên quyết không chịu quay về và gửi Đơn ly hôn. Do đó theo bà giữa cả hai sẽ khó có khả năng đoàn tụ. Ông S có biết việc bà L gửi Đơn ly hôn ở Tòa án nhưng do phải đi làm nên không về để đến Tòa án để làm việc được.

Từ những nội dung nêu trên, xét thấy cuộc hôn nhân hiện nay giữa bà L và ông S lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc duy trì quan hệ hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai vì thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay và trong thời gian ly thân cả hai không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L, bà L được ly hôn với ông S.

2.2 Về con chung: Giữa bà L và ông S có 03 con chung tên Nguyễn Thị Bảo T1, sinh ngày 08/12/2008; Nguyễn Lê Hoài T2, sinh ngày 09/8/2015 và Nguyễn Lê Hoài N, sinh ngày 13/10/2019. Theo trình bày của bà L và kết quả xác minh các cháu hiện đang sống với bà L. Sau khi ly hôn bà L yêu cầu được nuôi 03 con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con và theo các Tờ tự khai ngày 03/8/2022 các cháu T1và T2 có nguyện vọng được sống với mẹ là bà L sau khi cha mẹ ly hôn. Về phía ông S thì không có ý kiến về con chung. Do đó, để ổn định cuộc sống của con chung hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu của bà L, giao 03 con chung là cháu T1, T2 và N cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Bà L phải tạo điều kiện cho ông S trong việc tới lui thăm nom chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do bà L không yêu cầu nên ông S không phải cấp dưỡng nuôi con. Về quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn Nhân và Gia đình.

2.3 Về tài sản chung: Bà L yêu cầu tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2.4 Về nợ chung của vợ chồng: Bà L xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm:

Bà L là nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân Gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Bà L và ông S có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Thuỳ L được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.

Giấy chứng nhận kết hôn số 55/KH, quyền số 0I/2009 ngày 10/3/2009 của Ủy ban nhân dân xã Cần Đăng, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung:

Giao 03 con chung là Nguyễn Thị Bảo T1, sinh ngày 08/12/2008; Nguyễn Lê Hoài T2, sinh ngày 09/8/2015 và Nguyễn Lê Hoài N, sinh ngày 13/10/2019 cho bà Lê Thị Thuỳ L được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Bà L phải tạo điều kiện cho ông S trong việc tới lui thăm nom chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do bà L không yêu cầu nên ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn Nhân và Gia đình.

3. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Thuỳ L phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân Gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002577 ngày 21/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

4. Quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Thuỳ L và ông Nguyễn Văn S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ