vanban.org

Bản án 123/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Bé H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị Bé H được ly hôn với ông Trần Thanh R. Về con chung: Bà Cao Thị Bé H được trực tiếp nuôi dạy con chung tên: Trần Thanh H, sinh ngày 19/4/2008. Ông Trần Thanh R không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Bé H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 123/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 12 – 4 – 2022
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thiện Hoàn;

2. Ông Võ Hoàng Nghiệp.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 61/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 2 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 138/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Cao Thị Bé H, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ 24, ấp AH, xã KA, huyện AP, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Trần Thanh R, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ 24, ấp AH, xã KA, huyện AP, tỉnh An Giang.

Người làm chứng: Bà Cao Thị Thanh T, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ 24, ấp AH, xã KA, huyện AP, tỉnh An Giang.

Bà Cao Thị Bé H vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Trần Thanh R vắng mặt không rõ lý do, bà Cao Thị Thanh T có yêu cầu được vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 07/02/2022 của bà Cao Thị Bé H; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Cao Thị Bé H và ông Trần Thanh R tự tìm hiểu, quen biết và tiến đến hôn nhân vào năm 2006, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã KA, huyện AP (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 48, quyển số 01 ngày 14/4/2009).

Sau khi kết hôn thì bà Bé H và ông R sống riêng tại: Tổ 24, ấp AH, xã KA, huyện AP, tỉnh An Giang. Quá trình chung sống, thời gian đầu bà Bé H và ông R sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên, đến khoảng năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Bản thân ông R đi làm ăn xa, hay có quan hệ tình cảm bên ngoài, bà Bé H nhiều lần khuyên can nhưng ông R không thay đổi. Bà Bé H và ông R cũng sống ly thân nhau từ đó cho đến nay, cắt đứt mọi quan hệ và không hàn gắn tình cảm. Bà Bé H được biết hiện nay ông R đã có gia đình riêng. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng sống ly thân đã lâu nên bà Bé H yêu cầu được ly hôn với ông R.

Quá trình chung sống, bà Bé H và ông R có với nhau 01 con chung tên: Trần Thanh H, sinh ngày 19/4/2008. Con chung hiện đang sống với bà Bé H. Bà Bé H yêu cầu được nuôi dạy con chung. Không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Ngày 02/3/2022, bà Bé H có đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án, yêu cầu không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt khi vụ án được đưa R xét xử do bận công việc làm ăn xa không về được.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông R để tham gia phiên họp kiểm tR việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 04/3/2022 nhưng ông R vắng mặt không rõ lý do.

- Về tài liệu, chứng cứ:

Tài liệu, chứng cứ do bà Bé H giao nộp: Bản tự khai ngày 07/02/2022; Giấy chứng nhận kết hôn số 48, quyển số 01 ngày 14/4/2009 của Ủy ban nhân dân xã KA, huyện AP, tỉnh An Giang; bản sao Giấy khai sinh mang tên Trần Thanh H; bản sao Sổ hộ khẩu gia đình và giấy chứng minh nhân dân mang tên Cao Thị Bé H.

Tài liệu, chứng cứ do ông R giao nộp: Không.

Tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản lấy lởi khai người làm chứng bà Cao Thị Thanh T ngày 04/3/2022; biên bản ghi nhận ý kiến con chung; biên bản xác minh tại Ban ấp AH, xã KA, huyện AP ngày 02/3/2022; biên bản xác minh tại Công an xã KA, huyện AP ngày 02/3/2022.

Tại phiên tòa, do bà Bé H và ông R cùng vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố lời trình bày của bà Bé H, biên bản xác minh và biên bản lời khai người làm chứng bà Cao Thị Thanh T và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án;

- Theo biên bản lời khai người làm chứng bà Cao Thị Thanh T cho biết: Bà T là em ruột của bà Cao Thị Bé H, sinh năm 1984. Bà T sống đối diện nhà bà Bé H, thường xuyên qua lại nhà bà Bé H nên biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Cao Thị Bé H và ông Trần Thanh R:

Bà Cao Thị Bé H và ông Trần Thanh R tự tìm hiểu, quen biết và tiến đến hôn nhân vào năm 2006, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã KA, huyện AP. Sau khi kết hôn thì bà Bé H và ông R sống riêng tại: Tổ 24, ấp AH, xã KA, huyện AP, tỉnh An Giang. Quá trình chung sống, khoảng năm 2014 thì bà Bé H và ông R phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông R có quan hệ tình cảm bên ngoài, gia đình nhiều lần khuyên can nhưng ông R không thay đổi. Bà Bé H và ông R sống ly thân nhau từ năm 2014 cho đến nay, cắt đứt mọi quan hệ và không hàn gắn tình cảm. Ông R đã có gia đình riêng.

Quá trình chung sống, bà Bé H và ông R có với nhau 01 con chung tên: Trần Thanh H, sinh ngày 19/4/2008. Con chung hiện đang sống với bà Bé H. Về tài sản chung, nợ chung: Không rõ.

Do bà T bận công việc làm ăn nên bà T yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập tham gia xét xử.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện AP:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Ông Trần Thanh R vắng mặt lần thứ hai không lý do; bà Cao Thị Bé H có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt; người làm chứng bà Cao Thị Thanh T đã có lời khai tại Tòa án và có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại Điều 207, Điều 228, Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Theo trình bày của bà Bé H và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà Bé H và ông R đã đến mức trầm trọng ly thân nhau từ năm 2014, không hàn gắn tình cảm nên đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và giao con chung cho bà Bé H tiếp tục nuôi dạy theo nguyện vọng của cháu, ông R không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung, đương sự thống nhất tự thỏa thuận nên không xem xét, giải quyết.

Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tR tại phiên tòa và căn cứ kết quả tRnh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn ông Trần Thanh R vắng mặt không lý do; đồng thời, ông R đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Như vậy, ông R đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Nguyên đơn bà Cao Thị Bé H có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt; người làm chứng bà Cao Thị Lệ T có yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, vụ án được xem là không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 228, Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết:

Hôn nhân giữa bà Cao Thị Bé H và ông Trần Thanh R hình thành do tự tìm hiểu, tiến đến hôn nhân vào năm 2006 có đăng ký kết hôn tại UBND xã KA, huyện AP (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 48, quyển số 01 ngày 14/4/2009). Ông R có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Tổ 24, ấp AH, xã KA, huyện AP, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện AP, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bé H cho rằng, quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông R có quan hệ tình cảm bên ngoài. Gia đình nhiều lần khuyên can nhưng ông R không thay đổi. Bà Bé H và ông R sống ly thân nhau từ năm 2014 cho đến nay, cắt đứt mọi quan hệ và không hàn gắn tình cảm. Những mâu thuẫn mà bà Bé H trình bày được bà Cao Thị Lệ T và đại diện Ban ấp AH, xã KA, huyện AP xác nhận.

Nam nữ khi tiến đến hôn nhân đều hướng đến mục đích là xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững nhưng giữa bà Bé H và ông R lại tồn tại những mâu thuẫn không thể hàn gắn dẫn đến đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Bà Bé H và ông R sống ly thân nhau từ năm 2014 cho đến nay, cắt đứt mọi quan hệ và không hàn gắn tình cảm đã cho thấy sự vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Nhận thấy mâu thuẫn hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bé H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung:

Sau khi xem xét điều kiện nuôi con của bà Bé H, nguyện vọng của con chung. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quyết định để bà Bé H được trực tiếp nuôi dạy con chung tên: Trần Thanh H, sinh ngày 19/4/2008.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã giải thích cho bà Bé H về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với người không trực tiếp nuôi con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chung, nhưng bà Bé H vẫn giữ nguyên ý kiến của mình. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự tự nguyện của bà Bé H trong việc không yêu cầu ông R cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Ông R cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Bé H. Ngược lại, bà Bé H cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông R trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Bé H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Tuy nhiên, nếu sau này ông R có yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung thì Tòa án sẽ xem xét, giải quyết trong một vụ án khác.

Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác:

Bà Bé H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; ông R không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.

Về quyền kháng cáo: Bà Bé H và ông R có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các điều 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Bé H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị Bé H được ly hôn với ông Trần Thanh R.

2. Về con chung: Bà Cao Thị Bé H được trực tiếp nuôi dạy con chung tên: Trần Thanh H, sinh ngày 19/4/2008. Ông Trần Thanh R không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.

Ông Trần Thanh R cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Cao Thị Bé H. Ngược lại, bà Cao Thị Bé H cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trần Văn R trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Bà Cao Thị Bé H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà Hai đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006788 ngày 15/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện AP, tỉnh An Giang.

Ông Trần Văn R không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.

4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt bà Cao Thị Bé H và ông Trần Văn R. Bà H và ông R có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

5. Giấy chứng nhận kết hôn số 48, quyển số 01 ngày 14/4/2009 của Ủy ban nhân dân xã KA, huyện AP, tỉnh An Giang cấp cho ông Trần Thanh R và bà Cao Thị Bé H không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ