- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ng Trương Ng (T Ma) phạm tội “Cố ý gây thương tích”; - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Ng Trương Ng (T Ma) phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 123/2021/HS-ST Ngày: 03 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ng Thanh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Quốc Vũ – Phó Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông chuyên Thủ Khoa Nghĩa thành phố X;
2. Bà Nguyễn Phan Thùy Trang – Trưởng Phòng dân số Trung tâm y tế thành phố X.
Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hg, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố X xét xử kín sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 105/2021/HSST ngày 15 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Ng Trương Ng (T Ma), sinh ngày 16-5-2006 tại thành phố X; nơi đăng ký thường trú: tổ 05, khóm Vĩnh Phước 1, phường Núi Sam, thành phố X, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Trương Thị L;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30-6-2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Trương Thị L, sinh năm 1982 (là mẹ ruột của bị cáo); nơi cư trú: Tổ 05, khóm Vĩnh Phước 1, phường Núi Sam, thành phố X, tỉnh An Giang; có mặt.
Người được chỉ định bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Phước T là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh An Giang; có mặt.
Người bị hại: Nguyễn Hoài G, sinh ngày 24-7-2006; nơi cư trú: tổ 21, Khóm 1, phường Cp, thành phố X, tỉnh An Giang; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Phạm Thị Th, sinh năm 1983 (là mẹ ruột của bị hại); nơi cư trú: tổ 21, Khóm 1, phường Cp, thành phố X, tỉnh An Giang; có bà Phạm Thị Hoa, sinh năm 1956; nơi cư trú: khóm Châu Thạnh, phường Cp, thành phố X, là đại diện theo giấy ủy quyền ngày 03-11-2021; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại: Bà Lê Hồ Bích N là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh An Giang; có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Phan Huỳnh Trung Hg (Trung Kiên), sinh ngày 15-7-2004; nơi cư trú: tổ 17, khóm Châu Long 5, phường Châu Phú B, thành phố X, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của Phan Huỳnh Trung Hg: Ông Phan Văn P, sinh năm 1978 (là cha ruột Hg); nơi cư trú: tổ 17, khóm Châu Long 5, phường Châu Phú B, thành phố X, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Người làm chứng:
- Đinh Thị Ngọc Lh, sinh năm 2006; vắng mặt.
- Dương Thị Bích Lt, sinh năm 2004; vắng mặt.
- Lê Thế Ln, sinh năm 2003; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt:
Bị cáo Ng Trương Ng bị Viện Kiểm sát nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 04-8-2020, Ng Trương Ng đứng tại khu dân cư Biên Phòng thuộc khu vực khóm 8, phường Cp, thành phố X bị nhóm thanh niên khoảng 09 người (không rõ lai lịch, chỉ biết là nhóm của người tên Đen) đến gây sự, đánh nhau. Nhóm của Đen cầm cây tre, chai thủy tinh đánh, ném trúng vào người của Ng. Ng bỏ chạy, gặp Phan Huỳnh Trung Hg, kêu Hg chở về nhà ở tổ 5, khóm Vĩnh Phước 1, phường Núi Sam, thành phố X. Hg chờ ở đầu hẻm, Ng vào nhà lấy 01 con dao tự chế, cán dao bằng gỗ màu nâu dài khoảng 15cm, lưỡi dao bằng kim loại kích thước khoảng (50x3) cm, sắc bén một cạnh, mũi dao nhọn, giấu bên trong áo khoác đang mặc, kêu Hg chở quay lại khu dân cư Biên Phòng. Trong lúc tìm nhóm của Đen trả thù, Ng thấy Nguyễn Hoài G, Dương Thị Bích Tr, Đinh Thị Ngọc Lh đang đậu xe trên đường số 4 khu dân cư Biên Phòng. Giang đang ngồi trên xe, thấy Giang giống người đã ném hai chai thủy tinh vào lưng của Ng trước đó. Ng xuống xe, từ phía sau lưng của Giang đi đến, hai tay cầm cây dao tự chế, chém 01 nhát trúng vai trái của Giang. Bị chém bất ngờ, Giang bước xuống xe quay người lại, bị Ng chém thêm 01 nhát trúng vào cổ tay trái gây thương tích. Giang bỏ chạy khoảng 80m, bị 04 người thanh niên (không rõ lai lịch) chặn lại, sử dụng gạch, mũ bảo hiểm đánh vào người. Giang vùng vẫy chạy thoát, được Lh đưa đến bệnh viện điều trị thương tích. Riêng Ng, Hg chở về nhà, trên đường đi rơi mất cây dao đã chém Giang. Sau đó, Giang đi trình báo Công an và có đơn yêu cầu khởi tố đối với Ng Trương Ng.
Kết luận giám định pháp y số 336/20/TgT ngày 08-9-2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh An Giang giám định tỷ lệ thương tích của Nguyễn Hoài G như sau:
1. Dấu hiện chính qua giám định:
- Sẹo bả vai trái (10.5 x 1.5)cm, sẹo màu hồng, sẹo lồi, bờ sắc;
- Sẹo đi từ mặt trước cổ tay đến mu bàn tay trái (9.5x0.5)cm;
+ Đứt bó mạch thần kinh trụ, đứt thần kinh giữa;
+ Đứt gân gấp cổ tay hạn chế vận động khớp cổ tay ít;
+ Đứt gân gấp ngón I, II, III, IV, V, hạn chế vận động ngón I, II, III, IV, V.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do từng thương tích gây nên hiện tại là:
- Sẹo bả vai trái (10.5 x 1.5)cm, sẹo màu hồng, sẹo lồi, bờ sắc. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03%.
- Sẹo đi từ mặt trước cổ tay đến mu bàn tay trái (9.5x0.5)cm;
+ Đứt bó mạch thần kinh trụ, đứt thần kinh giữa;
+ Đứt gân gấp cổ tay hạn chế vận động khớp cổ tay ít;
+ Đứt gân gấp ngón I, II, III, IV, V, hạn chế vận động ngón I, II, III, IV, V.
Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 31%.
3. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 33%.
4. thương tích do vật sắt gây nên.
Ngày 28-12-2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố X đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Ng Trương Ng về hành vi cố ý gây thương tích.
Cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 16 tháng 9 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố X truy tố Ng Trương Ng về tội “Cố ý gây thượng tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bi ̣ cáo Ng Trương Ng về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự theo nội dung cáo trạng.
Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; là người chưa đủ 16 tuổi, thuộc thành phần nhân dân lao động, học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế; được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, được hưởng chế định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và chương XII Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ng Trương Ng từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù (1/2 mức hình phạt quy định) về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự buộc Nguyễn Văn D, Trương Thị L (cha, mẹ bị cáo) bồi thường chi phí điều trị, tiền mất thu nhập, phục hồi chức năng vận động số tiền 61.490.000 đồng theo yêu cầu của người bị hại.
Đề nghị HĐXX quyết định về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm; quy định nghĩa vụ, có trách nhiệm thi hành án; quy định quyền kháng cáo của bị cáo, đương sự trong vụ án theo luật định.
- Bị cáo Ng Trương Ng khai nhận do nhầm tưởng Giang trong nhóm của Đen, là người đã ném chai thủy tinh vào lưng mình trước đó nên đã thực hiện hành vi dùng dao chém Giang gây thương tích vào ngày 04-8-2020 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố X đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt; đồng ý bồi thường chi phi điều trị, tiền mất thu nhập,…theo yêu cầu của bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại số tiền là 61.490.000 đồng và gửi lời xin lỗi đến người bị hại.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Thống nhất về tội danh Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo.
Đề nghị xem xét hoàn cảnh, nhân thân của bị cáo: có hoàn cảnh khó khăn, học lực thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế.
Bị cáo và gia đình cũng đồng ý bồi thường thiệt hại cho người bị hại theo yêu cầu là 61.490.000 đồng.
Do đó, đề nghị xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Đồng ý bồi thường chi phí đều trị, mất thu nhập, phục hồi chức năng,….theo yêu cầu của bị hại là 61.490.000 đồng. Hiện nay, do tình hình dịch bệnh nên chưa đi làm có tiền để bồi thường, khi đi làm lại sẽ bồi thường cho bị hại; xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Ng.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Về phía bị hại có yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị, tiền mất thu nhập, tiền phục hồi chức năng vận động, tổn thất tinh thần…với số tiền 61.490.000 đồng.
Thống nhất với tội danh Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo.
Hành vi của bị cáo gây thương tích cho bị hại rất nặng nề, tổn hại sức khỏe của bị hại. Do đó, đề nghị áp dụng mức hình phạt là 3 năm tù theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an nhân dân thành phố X; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố X; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại và người làm chứng không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.
Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Huỳnh Trung Hg, người đại diện hợp pháp của Phan Huỳnh Trung Hg và những người làm chứng vắng mặt. Xét, người liên quan, người đại diện hợp pháp của người liên quan và người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại không có ý kiến gì nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
* Về nội dung,
Hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa, bị cáo Ng Trương Ng khai nhận: khoảng 16 giờ, ngày 04-8-2020, bị cáo đang đứng tại khu dân cư Biên Phòng thuộc khu vực khóm 8, phường Cp, thành phố X thì bị nhóm thanh niên khoảng 09 người (không rõ lai lịch, chỉ biết là nhóm của người tên Đen) đến gây sự, đánh nhau. Nhóm của Đen cầm cây tre, chai thủ tinh đánh, ném trúng vào người của Ng. Ng bỏ chạy, gặp Phan Huỳnh Trung Hg, kêu Hg chở Ng về nhà ở tổ 5, khóm Vĩnh Phước 1, phường Núi Sam, thành phố X. Hg chờ ở đầu hẻm, Ng vào nhà lấy 01 con dao tự chế, cán dao bằng gỗ màu nâu dài khoảng 15cm, lưỡi dao bằng kim loại kích thước khoảng (50x3) cm, sắc bén một cạnh, mũi dao nhọn, giấu bên trong áo khoác đang mặc, kêu Hg chở quay lại khu dân cư Biên Phòng, do nhầm tưởng Giang trong nhóm của Đen đã ném chai thủy tinh vào lưng mình trước đó nên bị cáo xuống xe, từ phía sau lưng của Giang đi đến, hai tay cầm cây dao tự chế, chém 01 nhát trúng vai trái của Giang, sau đó chém thêm 01 nhát trúng vào cổ tay trái. Giang bỏ chạy, bị cáo Ng cầm dao rượt đuổi theo nhưng không kịp nên dừng lại.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác gồm: biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường và sơ đồ hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố X lập ngày 27-11-2020; lời khai của bị hại Nguyễn Hoài G về việc bị Ng Trương Ng dùng dao chém trúng vai trái, cổ tay trái; lời khai của người liên quan Phan Huỳnh Trung Dũng, lời khai của người làm chứng Đinh Thị Ngọc Lh, Ng Thị Diễm Kiều, Dương Thị Bích Tr và Lê Thế Ln.
Ngoài ra, lời khai của bị cáo còn phù hợp với biên bản làm việc ngày 05-8-2020 về việc ghi nhận tình trạng thương tích của Nguyễn Hoài G; biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Nguyễn Hoài G ngày 14-8-2020; bản vẽ phác họa hung khí của Ng Trương Ng ngày 02-10-2020 và bản kết luật giám định pháp y về thương tích số 336/20/TgT ngày 08-9-2020 cùng bản ảnh số 276/18/TgT do Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh An Giang lập.
Từ các chứng cứ trên, có đủ căn cứ xác định, bị cáo Ng Trương Ng đã có hành vi dùng dao tự chế chém gây thương tích cho bị hại Nguyễn Hoài G với tỉ lệ thương tích là 33%. Hành vi của bị cáo Ng thực hiện với lỗi cố ý, giữa bị cáo và Giang không có mâu thuẫn, chỉ vì nhầm tưởng Giang là người trong nhóm của Đen, đã ném 02 chai thủy tinh vào lưng bị cáo trước đó mà bị cáo không kiềm chế được bản thân nên đã dùng dao tự chế lấy tại nhà chém Giang từ phía sau lưng trúng vai trái, sau đó tiếp tục chém thêm một nhát trúng cổ tay trái của Giang với mục đích gây thương tích. Hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Giang với tỷ lệ thương tật 33% nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 như quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X tại phiên tòa.
Sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, bị cáo nhận thức được điều đó, nhưng với bản tính côn đồ bị cáo đã thiếu kiềm chế bản thân thực hiện hành vi gây thương tích cho người khác tại nơi công cộng, gây hoang mang trong nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; thuộc thành phần lao động, học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần bị hạn chế; khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên. Đây là những tình tiết để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.Mặt khác, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên nên cần áp dụng Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét.
Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra không thu hồi được con dao bị cáo Ng đã dùng thực hiện tội phạm nên không đề cập xem xét.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại nêu yêu cầu của người bị hại là yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về sức khoẻ như chi phí điều trị, tiền mất thu nhập (của bị hại, của người mua bệnh), phục hồi chức năng vận động và tổn thất tinh thần tổng số tiền 61.490.000 đồng.
Xét thấy, theo giấy khai sinh ngày 01-9-2008 do Ủy ban nhân dân phường Núi Sam cấp thể hiện Ng Trương Ng có cha là Nguyễn Văn D và mẹ là Trương Thị L, tại thời điểm bị cáo phạm tội gây thương tích thiệt hại cho Giang là người chưa đủ 15 tuổi thì cha mẹ bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu theo quy định tại khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, bị cáo và bà Loan (mẹ ruột bị cáo) đều đồng ý bồi thường cho bị hại nên cần buộc ông Nguyễn Văn D, bà Trương Thị L (là cha, mẹ ruột bị cáo) có trách nhiệm liên đới cùng với bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 61.490.000 đồng theo quy định tại các Điều 584, 585, 586 và 591 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Vấn đề khác:
- Đối với Phan Huỳnh Trung Hg có hành vi điều khiển xe mô tô chở bị cáo Ng Trương Ng nhưng không biết bị cáo Ng mang theo dao tự chế, chém gây thương tích cho Giang nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hình sự đối với Hg là có căn cứ.
- Đối với 04 thanh niên đã chặn đánh Nguyễn Hoài G sau khi bị Ng chém gây thương tích; trong đó xác minh được người tên Lê Thế Ln; 02 thanh niên tên Phúc và Thắng. Tuy nhiên, Ln không thừa nhận, không có căn cứ xử lý; những người còn lại không rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
- Đối với nhóm thanh niên của người tên Đen đã đánh nhau với bị cáo Ng Trương Ng không rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Về án phí:
- Buộc bị cáo Ng Trương Ng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
- Ông Nguyễn Văn D, bà Trương Thị L có trách nhiệm liên đới cùng với bị cáo Ng bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Hoài G nên phải liên đới chịu án phí dân sự sự thẩm là 3.074.500 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Ng Trương Ng (T Ma) phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 101 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: bị cáo Ng Trương Ng (T Ma) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày 30-6-2021 (Ba mươi, tháng sáu, năm hai ngàn không trăm hai mươi một).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Ng Trương Ng (T Ma).
Căn cứ các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Trương Thị L (cha, mẹ ruột bị cáo) có trách nhiệm liên đới cùng với bị cáo Ng Trương Ng bồi thường cho bị hại Nguyễn Hoài G số tiền 61.490.000 (sáu mươi một triệu bốn trăm chín mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Ng Trương Ng (T Ma) phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Trương Thị L (cha, mẹ ruột bị cáo) liên đới cùng với bị cáo Ng Trương Ng chịu 3.074.500 (Ba triệu, không trăm bảy mươi bốn nghìn, năm trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND thành phố (1); - VKSND tỉnh An Giang (1); - Tòa án nhân dân tỉnh (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giữ (2); - Phòng hồ sơ (1); - Thi hành án DS thành phố (1); - Bộ phận THA Tòa án (1); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1); - Bị cáo; - Người bị hại; - Người liên quan; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Ng Thanh Ngọc |