- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V phạm tội: "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của đại diện hợp pháp cho bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 123/2021/HS-PT Ngày 23-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Đoan
Các Thẩm phán: Ông Ngô Văn Thắng
Ông Nguyễn Hồng Ánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại Hội trường xét xử số 2 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 126/2021/TLPT-HS ngày 26 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Văn V do có kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Văn V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 234/2021/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Bị cáo: Nguyễn Văn V; Tên gọi khác: Hoàng Văn Vương; Sinh ngày 02/11/2004 tại tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn K, xã T, thành phố B, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Thành T và bà Trần Thị N; Vợ con: không; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 14/9/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 09 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/6/2021 đến ngày 21/6/2021 bị bắt quả tang về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Trần Thị N; Sinh năm 1982; Địa chỉ: thôn K, xã T, thành phố B, tỉnh Quảng Ninh; Có mặt;
Người bào chữa cho bị cáo: Trợ giúp viên pháp lý Trần Quý Cường thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Ninh; Có mặt;
Bị hại: Anh Trương Văn L; Sinh năm 1999; Địa chỉ: xã Q, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phạm Hữu B; Sinh năm 2005; Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Thùy; Sinh năm 1986; Địa chỉ: khu B, phường P, thành phố B, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt;
2. Anh Nịnh Văn H; Sinh năm 2002; Địa chỉ: xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Phan Quốc T nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 02/6/2021 do thiếu tiền chi tiêu cá nhân, Phạm Hữu B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn vàng (là xe mượn của anh Nịnh Văn H) đã tháo biển kiểm soát 14B1-160.87 để ở trong cốp xe, đến rủ và chở Nguyễn Văn V, Phan Quốc T đi từ phường V, thành phố B đến thành phố H nhằm mục đích tìm sơ hở để trộm cắp xe mô tô. Khi đi đến địa bàn xã Q, thành phố H thì Bằng, V và T phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu sơn xanh, biển kiểm soát 14V1-119.08 của anh Trương Văn L đang dựng ở sân nhà, B nói “Quay lại xem xe có cắm chìa khóa không? Nếu có thì lấy trộm” rồi B điều khiển xe quay lại đi vào ngõ sát nhà của anh L quan sát thấy chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa xe mô tô. B bảo V cầm lái chiếc xe mô tô cùng với T cảnh giới, nổ máy xe chờ sẵn, còn B tiến lại gần chiếc xe của anh L ngồi lên, nổ máy và điều khiển xe đi thì anh L ở trong nhà phát hiện hô “Trộm”, nên V điều khiển xe Honda Wave chở T, B điều khiển xe mô tô Exiter, biển kiểm soát 14V1-119.08 bỏ chạy. Trên đường đi, T sang ngồi sau xe B, còn V điều khiển xe một mình. Do sợ bị Công an phát hiện nên T và B điều khiển chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được đến khu vực bãi than của Vietmindo ở phường V, thành phố B cất giấu, còn V điều khiển chiếc xe Honda Wave giấu ở bụi cây gần cầu 1, phường V, sau đó cả ba đi về nhà.
Nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của mình là vi phạm pháp luật, ngày 03/6/2021 Nguyễn Văn V, Phan Quốc T và Phạm Hữu B đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 107/KLĐG ngày 09/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 14V1-119.08 có trị giá tại thời điểm chiếm đoạt là 35.490.000đ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Cơ quan điều tra đã trả xe mô tô Biển kiểm soát 14V1-119.08 cho chủ sở hữu là anh Trương Văn L, sau khi nhận lại xe, anh L không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Đối với Phạm Hữu B khi thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” cùng với T và V nhưng chưa đủ 16 tuổi nên Công an thành phố H đã xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Wave biển kiểm soát 14B1-160.87 quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý sau.
Với nội dung trên tại Bản án sơ thẩm số: 234/2021/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố H đã căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt Nguyễn Văn V 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/6/2021. Ngoài ra bản án còn quyết định tội danh, hình phạt đối với bị cáo Phan Quốc T, án phí và báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/10/2021 bà Trần Thị N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn V.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm đã quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cũng tại phiên tòa bà Trần Thị N và Trợ giúp pháp lí cho bị cáo có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo là người chưa thành niên, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã khai báo thành khẩn, ra đầu thú và sống ở vùng khó khăn, đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh có quan điểm: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Văn V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của đại diện cho bị cáo trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 02/6/2021 tại thôn 4, xã Q, thành phố H, Nguyễn Văn V cùng Phan Quốc T và Phạm Hữu B đã có hành vi trộm cắp của anh Trương Văn L 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 14V-119.08 có trị giá là 35.490.000đ. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.
Về hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết tăng nặng, đánh giá hành vi phạm tội, nhân thân, hoàn cảnh gia đình, thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp.
Về nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của đại diện hợp pháp cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đến cơ quan điều tra đầu thú, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm đã áp dụng. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị cáo không cung cấp được các tài liệu chứng cứ mới xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xét thấy nhân thân của bị cáo xấu là đối tượng nghiện ma túy nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Ngoài hình phạt về tội: “Trộm cắp tài sản” thì bị cáo còn phải tổng hợp hình phạt 09 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số: 81/2021/HS-ST ngày 14/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Quảng Ninh đã có hiệu lực pháp luật. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 21/6/2021.
Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn V được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự:
1. Không chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của đại diện hợp pháp cho bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 58; Điều 91, khoản 1 Điều 101; Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn V 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số: 81/2021/HS-ST ngày 14/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Quảng Ninh, buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chấp hành hình phạt chung là 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 21/6/2021.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn V.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND tỉnh QN; - TAND Tp. H; - VKSND Tp. H; - Công an Tp. H; - Chi cục THADS Tp. H; - THA, Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Văn Đoan |