vanban.org

Bản án 123/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 01/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

*Căn cứ: Điểm b khoản 02 Điều 251; điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.

*Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T và Hồ Thanh T1 cùng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. *Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 7 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 05/01/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? *Căn cứ: Điểm b khoản 02 Điều 251; điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2019/HSST
Ngày: 01/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Minh Trí.

2. Ông Nguyễn Trung Lưu.

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thái Hà, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 136/2019/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2019 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Ngọc T (Tên gọi khác: Thanh Râu); Sinh năm 1977 tại Bình Thuận; ĐKHKTT: kp6, phường ĐL, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: kp7, phường ĐL, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Thợ hớt tóc; Con ông: Nguyễn Thanh X (đã chết); Con bà: Huỳnh Thị B (đã chết); Con: có 1 con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/01/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Phan Thiết “Có mặt”.

2/ Hồ Thanh T1 (Tên gọi khác: Nhí); Sinh năm: 1989 tại Bình Thuận; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn KB, xã HT, huyện HTB, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Con ông: Hồ Thanh Đ; sinh năm 1960; nghề nghiệp: làm nông; Con bà: Nguyễn Thị M; sinh năm 1960; nghề nghiệp: làm nông; Cùng trú tại: thôn KB, xã HT, huyện HTB, tỉnh Bình Thuận; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1990, HKTT: kp7, phường ĐL, TP.Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, chỗ ở: thôn KB, xã HT, huyện HTB, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: nội trợ; Con: Hồ Bảo Ng, sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 07/7/2017, bị Công an xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Nhân thân: Ngày 09/5/2008, bị TAND huyện Hàm Thuận Bắc tuyên phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (theo bản án số 33/2008/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích; Ngày 30/5/2011, bị TAND thành phố Phan Thiết tuyên phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (theo bản án số 74/2011/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/12/2011, đã được xóa án tích; Ngày 29/3/2013, bị TAND thành phố Phan Thiết tuyên phạt 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (theo bản án số 48/2013/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/02/2014, đã được xóa án tích; Bị cáo bị bắt từ ngày 03/8/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Phan Thiết “Có mặt”.

*/ Người làm chứng:

1/Lê Văn S, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: kp 5, phường PT, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

2/Nguyễn Lê V, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: kp4 phường HL, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ sáng ngày 03/01/2019, Nguyễn Ngọc T dùng điện thoại di động gọi cho Hồ Thanh T1 (hiện đã lâu nên T không còn nhớ các số thuê bao) xuống nhà T ở khu phố 7, phường Đức Long lấy tiền để vào thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận mua ma túy về bán. Khoảng 15 phút sau, T1 điều khiển xe mô tô Wave S biển số 86B3-134.21 đến gặp Thanh, Thanh đưa cho T1 4.900.000 đồng (hiện cả hai không còn nhớ mệnh giá) gồm 4.400.000 đồng là tiền mua ma túy, 500.000 là tiền công và tiền xăng xe. T1 nhận tiền và điều khiển xe mô tô loại Wave S biển số 86B3-134.21 vào Lagi để mua ma túy. Khi đi đến đoạn đường qua Dinh Thầy Thím khoảng 03 km thì T1 dùng điện thoại Nokia màu xanh – đen mà T đưa gọi điện cho một người phụ nữ thường gọi là chị Mập (không rõ nhân thân, hiện T1 không nhớ số điện thoại) để mua 01 chỉ heroin (tức khoảng 3,5 gam) với giá 4.400.000 đồng. Người này đồng ý và bảo T1 vào quán nước bên đường chờ. Khoảng 03 giờ sau, chị Mập điều khiển xe mô tô hiệu Dream, không rõ biển số, đi một mình đến gặp T1, T1 đưa 4.400.000 đồng, chị Mập giao cho T1 02 bịch nylon không màu hàn kín, bên trong mỗi bịch nylon chứa nhiều tép ma túy đều đựng trong các ống nhựa dùng để uống nước, hàn kín hai đầu. Mua được ma túy, T1 điều khiển xe mô tô quay về Phan Thiết và về đến nhà T vào khoảng 10 giờ cùng ngày. Khi gặp nhau, T1 giao toàn bộ số ma túy mua được cho T rồi về lại nhà của T1 ở Hàm Thắng, Hàm Thuận Bắc. Thanh cất 01 bịch nylon bên trong có chứa 20 tép heroin ở trong lư nhang bàn thờ ông táo trong bếp nhà của T và cất 01 bịch nylon chứa số ma túy còn lại ở dưới thùng nước khoáng trong phòng khách, mục đích chờ bán lại.

Vào khoảng 07 giờ 10 phút ngày 05/01/2019, Lê Văn S đến nhà của Nguyễn Lê V và rủ V hùn tiền mua ma túy của Nguyễn Ngọc T để sử dụng thì V đồng ý. V nói hết tiền nên chỉ góp 35.000 đồng, S góp vào 100.000 đồng. Sau đó, V và S đến nhà của T tại kp7, phường ĐL, thành phố Phan Thiết để mua heroin sử dụng. Đến nơi, V đứng chờ S cách nhà của T khoảng 5m, còn S đi vào gặp T đang ngồi ở trước nhà. T biết S đến để mua ma túy nên giữa S và T không có trao đổi gì. S đưa cho T 135.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng). T nhận tiền cất vào túi quần và giao cho S 01 tép ma túy đựng trong đoạn ống nhựa dùng để uống nước hàn kín hai đầu, màu hồng - trắng. S nhận ma túy của T đưa, cất vào túi quần rồi quay lại chỗ V đang đợi, nói: “Có hàng.” (nghĩa là mua được ma túy rồi) và cùng V đi tìm chỗ để sử dụng. Ngay lúc đó, thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Phan Thiết phối hợp với Công an phường Đức Long kiểm tra, bắt quả tang.

- Thu giữ từ Lê Văn S:

+ 01 đoạn ống hút nhựa dùng để uống nước màu hồng trắng, hàn kín hai đầu, kích thước 01 x 02cm bên trong có chứa chất bột màu trắng được thu giữ trong túi quần bên trái của Lê Văn S. S khai nhận đó là tép heroin mà T vừa bán cho S (ký hiệu M1).

- Thu giữ từ Nguyễn Ngọc T:

+ Tiền Việt nam: 945.000 đồng bao gồm:

+ Trong túi áo khoác bên trái 120.000 đồng.

+ Trong túi quần bên trái 690.000 đồng

+ Trong túi quần bên phải 135.000 đồng gồm 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (T khai đây là số tiền vừa bán 01 tép ma túy cho Sơn)

Qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Ngọc T tại kp7, phường ĐL, thành phố Phan Thiết còn phát hiện và thu giữ:

- 01 bịch nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng 11cm x 06cm, bên trong có chứa 20 đoạn ống nhựa dùng để uống nước được hàn kín (gồm 11 đoạn màu xanh da trời, 06 đoạn màu trắng – xanh, 03 đoạn màu trắng – hồng), kích thước mỗi đoạn khoảng 02 cm x 01cm, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều có chứa chất bột màu trắng, dạng nén. Bịch nylon trên được thu giữ trong lư nhang bàn thờ ông táo ở nhà bếp của T (ký hiệu M2).

- 01 bịch nylon không màu có khóa nhựa một đầu, kích thước khoảng 13cm x 07cm, bên trong có chứa 03 đoạn ống nhựa dùng để uống nước, hàn kín, kích thước mỗi đoạn khoảng 02cm x 01cm (gồm 02 đoạn màu xanh da trời và 01 đoạn màu xanh – trắng), bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều có chứa chất bột màu trắng, dạng nén. Bịch nylon trên được thu giữ dưới thùng nước khoáng ở góc nhà phòng khách trong nhà T (ký hiệu M3).

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh-đen, loại có bàn phím. T tự lấy trong túi quần phía trước bên trái của T ra giao nộp cho lực lượng công an.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng – đen, loại có bàn phím. T lấy trong túi quần phía trước, bên phải của T ra giao nộp cho lực lượng công an.

Tại thời điểm Cơ quan Cảnh sát điều tra thực hiện khám xét nơi ở của T thì còn có mặt Hồ Thanh T1 và có biểu hiện nghi vấn nên Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phan Thiết mời T1 về làm việc. Qua đấu tranh, T1 khai nhận như sau:

Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 05/01/2019, T1 đến nhà của T. Khi T1 đang ngồi chơi thì T nhận điện thoại của một đối tượng (không rõ tên, địa chỉ) gọi hỏi mua 01 tép ma túy, T đồng ý bán rồi T giao cho T1 01 tép ma túy đựng trong đoạn ống nhựa dùng để uống nước màu xanh da trời, hàn kín. T bảo T1 đem đến hẻm cà phê Thanh Hoa trên đường Trần Quý Cáp thuộc khu phố 6, phường Đức Long bán cho đối tượng đã gọi cho T (hiện đang đứng chờ sẵn) và lấy 130.000 đồng. T1 đồng ý nhận tép ma túy và điều khiển xe mô tô Wave S biển số 86B3-134.21 đi đến điểm hẹn thì thấy một đối tượng thanh niên đứng chờ. T1 giao cho người này 01 tép ma túy mà T vừa đưa rồi lấy 130.000 đồng gồm 01 tờ tiền 100.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cất vào túi quần phía sau bên trái rồi quay về. Khi T1 vừa về đến nhà của T, thì cùng thời điểm này Cơ quan Cảnh sát điều tra đang thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp. Do đó T1 chưa kịp giao lại số tiền vừa bán ma túy cho T thì cũng bị phát hiện, bắt giữ cùng với T1.

Thu giữ từ Hồ Thanh T1:

- Tiền Việt Nam 130.000 đồng gồm 01 tờ tiền 100.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng. Thu giữ trong túi quần phía sau bên trái của Hồ Thanh T1 (đây là số tiền mà T1 vừa bán tép ma túy giúp cho T).

Quá trình điều tra, T còn khai nhận đã bán cho Lâm Hán Q (sinh năm 1970, trú tại kp6, phường ĐL, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận) 01 tép heroin với giá 100.000 đồng vào sáng ngày 05/01/2019 tại nhà của T nhưng Q chưa đưa tiền. Tuy nhiên sau đó T và Q đều thay đổi lời khai, không thừa nhận. Quá trình điều tra cũng không có chứng cứ khác chứng minh cho việc cả hai đã thực hiện giao dịch này.

Tại kết luận giám định số 23/KLGĐ-PC09 ngày 11/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận đã kết luận:

- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,0426 gam, là Heroine.

- Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,8264 gam, là Heroine.

- Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 0,1313 gam, là Heroine.

Hoàn lại các mẫu vật gửi đến giám định:

- 01 đoạn ống nhựa màu trắng hồng đã cắt lấy mẫu đã được niêm phong trong phong bì số 23/1, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự - công an tỉnh Bình Thuận. (Trong quá trình giám định mẫu M1 đã được sử dụng hết)

- 01 gói nylon, 20 đoạn ống nhựa (gồm 11 đoạn ống nhựa màu xanh da trời, 06 đoạn ống nhựa màu trắng xanh, 03 đoạn ống nhựa màu hồng trắng) đã cắt lấy mẫu và 0,6691 gam mẫu M2 được niêm phong trong phong bì số 23/2, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự - công an tỉnh Bình Thuận.

- 01 gói nylon một đầu có khóa nhựa, 03 đoạn ống nhựa (gồm 02 đoạn ống nhựa màu xanh da trời, 01 đoạn ống nhựa màu trắng xanh) đã cắt lấy mẫu và 0,0502 gam mẫu M3 được niêm phong trong phong bì số 23/3, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự - công an tỉnh Bình Thuận.

Tại bản cáo trạng số 131/CT – VKS ngày 09 tháng 9 năm 2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận đã truy tố Nguyễn Ngọc T, Hồ Thanh T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 02 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 02 Điều 251; điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T mức án từ 7 năm đến 8 năm tù. Bị cáo T1 từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm 6 tháng tù.

Xử lý vật chứng: mẫu vật còn lại sau giám định 03 phong bì niêm phong số 23/1, 23/2, 23/3 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận là vật chứng thuộc loại nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy, 01 điện thoại di động Nokia, loại có bàn phím, bên trong có gắn sim, không xác định được số sim là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với Nguyễn Lê V, Lê Văn S mua ma tuý của T sử dụng nhưng không xác định được định lượng ma tuý, ngoài ra V, S chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và cũng chưa bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý nên không có căn cứ xử lý V, S về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Đối với đối tượng tên Mập, người đã bán ma túy cho T1 do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý.

Các bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.

Các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận:

Sáng ngày 03/01/2019, Nguyễn Ngọc T đã đưa 4.900.000 đồng cho Hồ Thanh T1 vào thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận mua ma túy của một đối tượng không rõ nhân thân (trong đó 4.400.000 đồng là tiền mua ma túy, 500.000 đồng là tiền công cho T1). Sau đó T1 mang ma túy về Phan Thiết đưa lại cho Thanh cất giữ.

Lúc 07 giờ 10 phút ngày 05/01/2019, Nguyễn Ngọc T có hành vi bán trực tiếp 01 tép heroin có khối lượng 0,0426 gam cho Lê Văn Sơn với giá 135.000 đồng.

Trước đó, vào khoảng 6 giờ 30 phút ngày 05/01/2019, Nguyễn Ngọc T thỏa thuận bán 01 tép ma túy cho đối tượng không rõ nhân thân và Hồ Thanh T1 đi giao ma túy cho đối tượng nghiện tại hẻm cà phê Thanh Hoa trên đường Trần Quý Cáp thuộc kp6, phường ĐL, thành phố Phan Thiết với giá 130.000 đồng. Khi T1 vừa quay về nhà T, chưa kịp đưa lại số tiền bán ma túy cho Thanh thì cả hai bị bắt.

Xét thấy, các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trật tự an toàn xã hội đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Phạm tội nhiều lần” là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt được quy định tại điểm b khoản 02 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra cho thấy, các bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội, các bị cáo cũng nhận thức được Heroine là một trong những loại ma túy gây nghiện, nhà nước nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý đối với mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ… chất ma túy trái phép. Các bị cáo biết rõ ma túy là một trong những căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội nhưng các bị cáo xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả đã thực hiện hành vi mua ma túy về để bán lại cho các con nghiện kiếm lời.

Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cao cho xã hội nên cần xử lý bằng một mức án nghiêm khắc không chỉ nhằm trừng trị mà còn giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các qui tắc của cuộc sống, ngăn ngừa các bị cáo phạm tội mới. Ngoài ra, mức hình phạt đối với các bị cáo còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Xét về nhân thân: đối với bị cáo T chưa có tiền án, tiền sự. Đối với bị cáo T1 đã từng bị Tòa án xử phạt về hành vi “trộm cắp tài sản” nhưng không biết tu tĩnh sửa chữa làm ăn lương thiện mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, đối với bị cáo T là chủ mưu thực hiện 02 lần hành vi bán trái phép chất ma túy, đối với bị cáo T1 là người giúp sức tích cực và 01 lần thực hiện hành vi bán giùm cho bị cáo T và có nhân thân xấu nên mức hình phạt bị cáo T1 hơn bị cáo T.

Ý kiến đề nghị của kiểm sát viên về mức hình phạt của các bị cáo chưa chính xác, bởi lẽ trong vụ án này, bị cáo T là người chủ mưu đưa tiền cho bị cáo T1 đi mua ma túy về bán kiếm lời và cũng là người 02 lần thực hiện hành vi bán ma túy cho các con nghiện. Bị cáo T1 là người giúp T trực tiếp đi vào La Gi để mua ma túy về cho T, được hưởng lợi từ việc mua ma túy cho T và cũng 01 lần giao ma túy giùm cho T nên vai trò của bị cáo T trong vụ án này tích cực hơn bị cáo T1, do đó khi quyết định mức hình phạt của bị cáo T cao hơn bị cáo T1 là có cơ sở.

Trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự và xem xét nhân thân của các bị cáo, xét thấy cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.

[6] Về xử lý vật chứng: mẫu vật còn lại sau giám định 03 phong bì niêm phong số 23/1, 23/2, 23/3 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận là vật chứng thuộc loại nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy, đối với 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, loại có bàn phím, bên trong có gắn sim, không xác định được số sim là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen - trắng, loại có bàn phím quá trình điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của bị cáo T không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại trên cho bị cáo Thanh là đúng theo quy định pháp luật.

Đối với xe mô tô Wave S biển số 86B3-134.21, bị cáo T1 dùng làm phương tiện đi mua và giao ma túy quá trình điều tra xác định tài sản này thuộc sở hữu của cha T1 là ông Hồ Thanh Đ (sinh năm 1960, trú tại thôn KB, xã HT, huyện HTB). Ông Đ thường xuyên cho T1 mượn xe đi, ông không biết gì đến việc T1 dùng xe của ông đi mua, bán ma túy và đã cung cấp các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản này. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phan Thiết không thu giữ xe mô tô Wave S biển số 86B3-134.21 là có cơ sở.

Đối với số tiền thu giữ của T 945.000 đồng trong đó có 135.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có của bị cáo T nên tịch thu sung quỹ nhà nước. Số tiền còn lại 810.000 đồng không liên quan đến vụ án nhưng không trả lại cho bị cáo tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành phần án phí, số tiền thừa trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền thu giữ của T1 130.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ nhà nước và buộc bị cáo T1 nộp lại 500.000 đồng hưởng lợi bất chính từ mua ma túy cho T.

Đối với Nguyễn Lê V, Lê Văn S mua ma tuý của T sử dụng nhưng không xác định được định lượng ma tuý, ngoài ra V, S chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và cũng chưa bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý nên không có căn cứ xử lý V, S về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý là có cơ sở.

Đối với đối tượng tên Mập, người đã bán ma túy cho T1 do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý.

[7] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

*Căn cứ: Điểm b khoản 02 Điều 251; điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.

*Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T và Hồ Thanh T1 cùng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

*Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 7 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 05/01/2019.

*Xử phạt: Bị cáo Hồ Thanh T1 7 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 03/8/2019.

*Biện pháp tư pháp:

+ Áp dụng: tại điểm a, b, c khoản 01 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 02 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định là 03 phong bì niêm phong số 23/1, 23/2, 23/3 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận là vật chứng thuộc loại nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, loại có bàn phím, bên trong có gắn sim, không xác định được số sim là phương tiện phạm tội mà có.

- Buộc bị cáo T nộp lại số tiền 135.000 đồng, bị cáo T1 nộp lại số tiền 630.000 đồng là tiền tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có để sung quỹ nhà nước.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 945.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc T và số tiền 130.000 đồng thu giữ của bị cáo T1 để đảm bảo thi hành án, số tiền thừa còn lại trả cho bị cáo T.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 141 ngày 10/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết và giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 10/9/2019 của kho bạc nhà nước).

*Về án phí: áp dụng Điều 135, khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Bị cáo Nguyễn Ngọc T và Hồ Thanh T1 mỗi bị cáo phaûi noäp 200.000ñ (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án của các bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/10/2019).

Cỡ chữ