vanban.org

Bản án 123/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 12/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Võ Hoàng T và Hàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: Võ Hoàng T 02 (Hai) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày 16 tháng 5 năm 2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Hoàng T và Hàng Văn H - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Võ Hoàng T và Hàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN N DÂN
THÀNH PHỐ LX

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AG
Bản án số: 123 /2019/HS-ST
Ngày 12/11/2019

N DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN THÀNH PHỐ LX, TỈNH AG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.

Các Hội thẩm N dân:

Ông Nguyễn Tấn Hậu;

Ông Lê Quốc Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thành Thái.

- Đại diện Viện kiểm sát N dân thành phố LX, tỉnh AG tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Ủy ban N dân phường MH, thành phố LX, tỉnh AG xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Võ Hoàng T, sinh năm 1993, tại tỉnh AG; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 560/15B, khóm ĐP, phường ĐX, thành phố LX, tỉnh AG; chỗ ở hiện nay: tổ 7, khóm ĐH, phường ĐX, thành phố LX, tỉnh AG; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Chiến, sinh năm 1959 và bà Trần Thị Tuyết, sinh năm 1967; chung sống như vợ chồng với Lê Thị Châu Phi, sinh năm 1993; N thân: Nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ, đi học đến lớp 9 nghỉ học. Ngày 25 tháng 11 năm 2014, bị Tòa án N dân thành phố LX xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 09 tháng 9 năm 2015, chấp hành xong bản án. Ngày 22 tháng 01 năm 2016, bị Tòa án N dân thành phố LX ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 21 tháng, đến ngày 03/9/2017 chấp hành xong quyết định. Ngày 02 tháng 11 năm 2017, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thoại Sơn, tỉnh AG khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 29 tháng 01 năm 2018 được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thoại Sơn ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự, đình chỉ điều tra bị can theo khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16 tháng 5 năm 2019 cho đến nay; có mặt. 2. Hàng Văn H, sinh năm 1994, tại tỉnh AG; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 287/10, khóm TK4, phường MH, thành phố LX, tỉnh AG; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hàng Văn Hùng, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ con; N thân: từ nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ, đi học đến lớp 08 nghỉ học; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16 tháng 5 năm 2019 cho đến nay; có mặt. Bị hại: + Ông Trương Hoài N, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp Tây Bình, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh AG, vắng mặt. + Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1980; địa chỉ: số 230/15, khóm Mỹ Lộc, phường Mỹ Phước, thành phố LX, tỉnh AG, vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: + Ông Lê Trung T, sinh năm 1976; địa chỉ: số 335, tổ 17, khóm Bình Khánh 7, phường Bình Khánh, thành phố LX, tỉnh AG,

vắng mặt. + Ông Hồ Mạnh Gi, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn Tây Hòa, ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt. Người làm chứng: + Ông Nguyễn Hữu D, sinh năm 1994, vắng mặt; + Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 02 giờ ngày 16 tháng 5 năm 2019, Võ Hoàng T rủ và điều khiển xe mô tô biển số 60H8-7338 chở Hàng Văn H đến khu vực phường MH, thành phố LX tìm tài sản lấy trộm. Khi đến khu vực láng trại công trình xây dựng của Công ty TNHH Xây dựng cầu đường An Giang tại tổ 5, khóm Tây Huề 1, phường MH, thấy có một số xe ô tô tải và xe lu đậu nH không có người trông coi nên dừng xe vào tìm tài sản lấy trộm. T mở cốp xe mô tô biển số 60H8-7338 lấy 01 cây kềm, 01 cây chìa khóa 13 đưa cho H để tháo lấy trộm 02 bình ắc quy, nhãn hiệu GS Việt Nam, màu xanh trắng, model N150E, điện áp 12V, dung lượng 150A gắn trên xe ô tô tải biển số 67C-071.42 và lấy 01 bình ắc quy khô, nhãn hiệu GS Việt Nam`, màu xanh trắng, model GT25S, điện áp 12V, dung lượng 3,5A để ở trên xe lu biển số 67SA-0215. Còn T tháo lấy trộm 01 bình ắc quy nước, nhãn hiệu GS Việt Nam, màu xanh trắng, model N100E, điện áp 12V, dung lượng 100A và 01 bình ắc quy nước, nhãn hiệu Đồng Nai Việt Nam, màu đen trắng, model N100 gắn trên xe lu biển số 67SA-0068. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở H đem theo 5 bình ắc quy đến khu vực Bến xe Bình Khánh (cũ) ở khóm Bình Thới 2, phường Bình Khánh thì bị Công an phường Bình Khánh kiểm tra, phát hiện bắt giữ.

* Vật chứng thu giữ, gồm: 05 bình ắc quy; 01 cây kềm cắt màu cam - đen; 01 cây mỏ lết màu trắng; 03 cây khóa vặn hai đầu; 01 cây ống điếu; 01 xe mô tô biển số 60H8-7338, loại xe Wave màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu đỏ đen, có gắn sim; 01 điện thoại di động hiệu Gionee B166 màu đen xanh lá, có gắn sim.

Ngày 16 tháng 5 năm 2019, T và H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố LX ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.

Quá trình điều tra, T và H còn khai nhận: Ngoài lần phạm tội trên, T, H còn nhiều lần lấy trộm tài sản của người khác đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng tháng 01/2019, không nhớ rõ ngày, T khai cùng H lấy trộm cắp 55kg sắt tại công trình đang xây dựng nhà ở khóm Tân Phú, phường Mỹ Quý, thành phố LX đem bán cho Trung T được 275.000 đồng, T đưa H 200.000 đồng nH H không thừa nhận việc này.

Lần thứ hai: Khoảng 02 giờ ngày 15 tháng 5 năm 2019, T rủ và điều khiển xe mô tô biển số 60H8-7338 chở H đến khu vực phường Mỹ Quý tìm tài sản lấy trộm. Khi đến khu vực khóm Mỹ Quới, phường Mỹ Quý, cả hai phát hiện phía sau quán cà phê Thời Gian trên đường Đào Duy Từ có để chuồng gà bằng gỗ nên T dừng lại cho H vào trong mở chồng gà bắt trộm 03 con gà để vào bao. Sau đó, T chở H đến vựa phế liệu của Lê Trung T ở khóm Bình Khánh 7, phường Bình Khánh, thành phố LX bán cho Trung T được 1.000.000 đồng. Do T nợ Trung T 200.000 đồng nên Trung T trừ nợ và đưa cho T 800.000 đồng. T và H chia nhau mỗi người 400.000 đồng. Khi bán gà, T không cho Trung T biết gà do lấy trộm mà có.

Riêng H còn khai: Khoảng tháng 3 năm 2019, không nhớ ngày, H lấy trộm 01 bình ắc quy màu cam (loại bình xe honda) để trên vĩa hè đường Trần H Đạo, đoạn thuộc khóm Đông Thạnh B, phường Mỹ Thạnh, thành phố LX bán cho người phụ nữ không rõ họ tên, địa chỉ được 40.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố LX đã xác minh, thông báo tìm bị hại bị mất trộm sắt, bị mất trộm bình ắc quy nH đến nay không có kết quả.

* Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 226/KL.HĐ ngày 16 tháng 5 năm 2019 và số 227/KL.HĐ ngày 19 tháng 7 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố LX xác định:

- 05 bình ắc quy có tổng trị giá tài sản 6.390.000 đồng.

- 02 con gà trống, 01 con gà mái, tổng trọng lượng 6,4kg, trị giá 640.000 đồng.

* Kết luận giám định số 90/KLGT-PC09 ngày 07 tháng 8 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh AG xác định: Xe mô tô màu xanh, mang biển số 60H8-7338, số khung VHTDCB013HT002409, số máy: VPJL1P39FMB2002410. Số khung, số máy không bị đục sửa. * Phiếu trả lời xác minh phương tiện Gi thông cơ giới đường bộ ngày 06 tháng 8 năm 2019 và ngày 12 tháng 8 năm 2019 của Phòng Cảnh sát Gi thông Công an tỉnh AG xác định:

- Xe mô tô biển số 60H8-7338 có số máy FMG-00691768, số khung Y0040368, chủ xe Hồ Mạnh Gi.

- Không tìm thấy dữ liệu tra cứu đối với xe mô tô có số máy VPJL1P39FMB2002410, số khung VHTDCB013HT002409. Tại Cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 10 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát N dân thành phố LX đã truy tố các bị cáo Võ Hoàng T và Hàng Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa

- Các bị cáo T và H đều thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Các bị cáo T và H không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên Quyết định truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Hoàng T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù và Hàng Văn H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và những người liên quan đến vụ án không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kềm cán màu cam - đen; 01 cây mỏ lết màu trắng; 03 cây chìa khóa vặn hai đầu (01 cây 10-12; 01 cây 12-14; 01 cây 13-13); 01 cây chìa khóa điếu hai đầu số 9-10; biển số 60H8-7338. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: + 01 xe mô tô loại xe Wave màu xanh, số máy FMG-00691768, số khung Y0040368. + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đỏ - đen, có gắn sim số 8984020001083599127; + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Gionee màu đen - xanh lá, có gắn sim số 89840200021525045438.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố LX, Điều tra viên, Viện kiểm sát N dân thành phố LX, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của những bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác gồm: biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 08/8/2019 cùng sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường kèm theo do Công an thành phố LX lập trong vụ trộm cắp tài sản ngày 15/5/2019; lời khai của người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Xây dựng cầu đường An Giang về việc bị mất trộm năm bình ắc quy; lời khai của anh Huỳnh Văn C về việc mất trộm 03 con gà. Từ các chứng cứ trên, có cơ sở xác định, khi phát hiện sơ hở trong quản lý tài sản, các bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của những bị hại.

Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 226/KL.HĐ ngày 16 tháng 5 năm 2019 và số 227/KL.HĐ ngày 19 tháng 7 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố LX xác định:

- 05 bình ắc quy có tổng trị giá tài sản 6.390.000 đồng.

- 02 con gà trống, 01 con gà mái, tổng trọng lượng 6,4kg, trị giá 640.000 đồng.

Các bị cáo T, H là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nH vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát N dân thành phố LX truy tố các bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát N dân thành phố LX tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với việc T khai cùng H lấy trộm 55kg sắt nH H không thừa nhận. Ngoài lời khai của T không còn chứng cứ khác nên không đủ căn cứ để quy kết trách nhiệm hình sự đối với T và H về trị giá tài sản chiếm đoạt này. Việc H khai lấy trộm 01 bình ắc quy nH không xác định được bị hại. Ngoài lời khai của H không còn chứng cứ khác nên không đủ căn cứ để quy kết trách nhiệm hình sự đối H về giá trị tài sản chiếm đoạt này. Đối với Lê Trung T không biết tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố LX không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là đúng. Ông Hồ Mạnh Gi bị mất trộm xe mô tô biển số 60H8-7338, số máy FMG-00691768, số khung Y0040368 tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố LX đã thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai biết để giải quyết theo quy định của pháp luật. [3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong việc quản lý tài sản của người dân. Các bị cáo là người khỏe mạnh có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi, các bị cáo liên tục thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản của người khác. Xét, áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Trong đồng phạm, bị cáo T là người rủ rê bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo H. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Quá trình điều tra, các bị cáo tự thú khai nhận những lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trước đó. Xét, áp dụng điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo khi quyết định hình phạt. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. [5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và những người liên quan đến vụ án không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết. [6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây kềm cán màu cam - đen; 01 cây mỏ lết màu trắng; 03 cây chìa khóa vặn hai đầu (01 cây 10-12; 01 cây 12-14; 01 cây 13-13); 01 cây chìa khóa điếu hai đầu số 9-10, các vật dụng này là phương tiện phạm tội, vật có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội và không còn giá trị sử dụng. Xét, tịch thu tiêu hủy. Đối với biển số 60H8-7338, được cấp cho Hồ Mạnh Gi nH quá trình điều tra, anh Gi không yêu cầu nhận lại. Xét, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đỏ - đen, có gắn sim số 8984020001083599127; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Gionee màu đen – xanh lá, có gắn sim số 89840200021525045438, là phương tiện phạm tội, vật có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội. Xét, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô loại xe Wave màu xanh, số máy FMG-00691768, số khung Y0040368. Bị cáo T khai xe này là của bị cáo mua của người đàn ông khoảng 50 tuổi tại khu vực phường Mỹ Quý, thành phố LX với giá là 1.500.000đ, không làm giấy tờ mua bán và bị cáo xác định dùng xe mô tô này để làm phương tiện đi lại và chở H đi trộm cắp tài sản. Xét, tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố các bị cáo Võ Hoàng T và Hàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: Võ Hoàng T 02 (Hai) năm tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày 16 tháng 5 năm 2019.

Xử phạt: Hàng Văn H 01 (Một) năm tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày 16 tháng 5 năm 2019.

2. Về trách nhiệm dân sự: không đề cập giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kềm cán màu cam – đen; 01 cây mỏ lết màu trắng; 03 cây chìa khóa vặn hai đầu (01 cây 10-12; 01 cây 12-14; 01 cây 13-13); 01 cây chìa khóa điếu hai đầu số 9-10; biển số 60H8-7338.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:

+ 01 xe mô tô loại xe Wave màu xanh, số máy FMG-00691768, số khung Y0040368.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đỏ - đen, có gắn sim số 8984020001083599127;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Gionee màu đen – xanh lá, có gắn sim số 89840200021525045438.

(Theo biên bản Gi nhận vật chứng ngày 25/9/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố LX với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố LX). 4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Võ Hoàng T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Buộc bị cáo Hàng Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án N dân tỉnh AG xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của các bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được Gi hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ