vanban.org

Bản án 123/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Hình Phước T.

Buộc bà Trần Thị Trúc L có nghĩa vụ trả cho ông Hình Phước T số tiền nợ vay là 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng) và tiền lãi là 10.624.000 đồng (Mười triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn đồng). Tổng cộng là 42.624.000 đồng (Bốn mươi hai triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn đồng). Kể từ ngày bản án,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông Hình Phước T - Trần Thị T L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Hình Phước T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẤP VÒ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2019/DS-ST
Ngày: 29-11-2019
“Tranh chấp về Hợp đồng
dân sự vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.

2. Ông Lê Kim Lịnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hoàng Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

Trong ngày 29/11/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 307/2019/TLST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2019 về “Tranh chấp về Hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 252/2019/QĐXXST-DS, ngày 01/11/2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 199/2019/QĐST-DS ngày 20/11/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hình Phước T, sinh năm 1953; địa chỉ: Số 301, ấp VH, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT; (Có mặt).

2. Bị đơn: Bà Trần Thị Trúc L, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 265, ấp VH, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản trình bày ý kiến và tại phiên toà ông T là nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 11/10/2015 bà L có vay của ông T số tiền 7.000.000 đồng và ngày 15/10/2015 bà L vay tiếp 25.000.000 đồng, tổng cộng là 32.000.000 đồng, không làm biên nhận nợ, không có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lãi suất 3%/tháng, không thỏa thuận thời hạn trả. Sau khi vay bà L đóng lãi đến tháng 11/2015 thì ngưng.

Nay ông Tyêu cầu bà L trả tiền nợ là 32.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 0,83%/tháng 01/2016 đến tháng 5/2019 là 40 tháng = 10.624.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 42.624.000 đồng.

- Bà L không có văn bản ý kiến gì đối với yêu cầu của ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà L là bị đơn đang sinh sống tại huyện LV nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện LV, theo quy định tại Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà L được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Ông T yêu cầu nhưng không có biên nhận nợ có chữ ký tên của bà L mà chỉ ghi nội dung số tiền bà L nợ ông T trong quyển tập. Ông T cho rằng là do bà L trực tiếp viết.

Tuy nhiên, Tòa án đã có thông báo nói rõ yêu cầu và chứng cứ ông T đưa ra, bà L cũng đã ký nhận trực tiếp văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không ý kiến gì, không đến Tòa án. Do đó, mọi hậu quả pháp lý về việc không đến Tòa án, không có ý kiến phản ứng gì đối với yêu cầu của ông T đưa ra, nên xác định bà L còn nợ ông T là thật.

Tại Điều 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

“Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.”

“Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”

Ông T yêu cầu mức lãi suất 0,83%/tháng là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bà L bị buộc nghĩa vụ dân sự nên phải chịu án phí sơ thẩm dân sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, 463, 466, 470, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Hình Phước T.

Buộc bà Trần Thị Trúc L có nghĩa vụ trả cho ông Hình Phước T số tiền nợ vay là 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng) và tiền lãi là 10.624.000 đồng (Mười triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn đồng). Tổng cộng là 42.624.000 đồng (Bốn mươi hai triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí: Buộc bà Trần Thị Trúc L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 2.131.200 đồng (Hai triệu một trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm đồng).

Ông Hình Phước T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.120.000 đồng (Một triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số BH/2018/0002834 ngày 04/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LV.

3. Án xử công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ