vanban.org

Bản án 123/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 20/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Duy K và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 123/2018/HS-ST
Ngày 20 - 8 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH , TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phá n – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Chu Thị Hồng Nhật

Phạm Đức Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân thành phố Thá i Binh tham gia phiên tòa:

̀ Ông Nguyễn Văn Tam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phốThái Bình, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vu ̣ án hinh sự thu ̣ lý số 111/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 7năm 2018 theo Quyết

̀ định đưa vụ án ra xét xử đối vớ i các bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Duy K, sinh ngày 20/6/1996; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiê ̣p: Lao động tự do; trình đô ̣ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn K, sinh năm 1974 và bà Phùng Thị T, sinh năm 1974; chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 05/3/2018, tạm giam từ ngày 14/3/2018 đến nay; trích xuất có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thành L, sinh ngày 04/7/1992; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn Q, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiê ̣p: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ôngNguyễn Văn L, sinh năm 1963, ông L được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1964; chưa có vợ và con; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định xử phạt hành chính số 04821/QĐ - XPHC ngày 30/5/2017 của Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trực tiếp xâm hại sức khỏe của người khác (đã nộp xong tiền phạt); nhân thân:- Năm 2009 bị Công an huyện Vũ Thư xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác; - Bản án số 34/2013/HSST ngày 01/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; bị bắt tạm giam từ ngày 15/02/2018 đến nay; trích xuất có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn H (H1), sinh năm 1991; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiê ̣p: Lao động tự do; trình đô ̣ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Phạm Thị L, sinh năm 1971; chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: - Từ năm 2009 đến năm 2011 tham gia nghĩa vụ quân sự; - Bản án số 117/2012/HSST ngày 26/4/2012 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng 22 ngày tù về tội “Cố ý gây thương tích”, được trả tự do tại phiên tòa, về trách nhiệm dân sự và án phí của bản án đã chấp hành xong; bị tạm giữ từ ngày 05/3/2018, tạm giam từ ngày 14/3/2018 đến nay; trích xuấtcó mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Trịnh Xuân D, sinh ngày 10/5/1995; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn Q, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiê ̣p: Lao động tự do; trình đô ̣ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ôngTrịnh Văn B, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1975; chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Từ tháng 2/2014 đến tháng 7/2015 tham gia nghĩa vụ quân sự; bị tạm giữ từ ngày 05/3/2018, tạm giam từ ngày 14/3/2018 đến nay; trích xuất có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Nguyễn Hoàng H (H2), sinh năm 1996; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiê ̣p: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc C, sinh năm 1963 và bà Hoàng Thị D, sinh năm 1976; có vợ là chị Vũ Thị Quỳnh T, sinh năm 1997 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 15/02/2018, ngày 15/6/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1997 (vắng mặt có lý do).

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình;

Hiện đang thi hành án tại: Trại giam Ninh Khánh, tỉnh Ninh Bình.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Trịnh Văn B, sinh năm 1974 (có mặt);

Nơi cư trú: Thôn Q, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình.

* Người làm chứng:

- Bà Đặng Thị D, sinh năm 1968 (có mặt);

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

- Chị Ngô Thị Thanh H, sinh năm 1999 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

- Anh Bùi Đức T, sinh ngày 05/9/2000 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

- Chị Vũ Thị H, sinh năm 1993 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

- Anh Lại Tuấn A, sinh năm 1999 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Tổ 31, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

- Anh Nguyễn Đức D, sinh năm 1991 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Thôn D, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

- Ông Đặng Xuân C, sinh năm 1952 (có mặt);

Nơi cư trú: Thôn D, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 21/12/2017, anh Nguyễn Thanh T và Vũ Duy K có xảy ra mâu thuẫn về việc nợ tiền vay, anh Nguyễn Thanh T lên mạng Facebook chửi và đe dọa sẽ đánh Vũ Duy K. Vì vậy, Vũ Duy K bức xúc, khoảng 19 giờ ngày 25/12/2017, Vũ Duy K lấy 04 chiếc kiếm bằng kim loại dắt vào cánh yếm bên phải xe máy nhãn hiệu Dream, sơn màu nâu, không đeo biển số mà K mượn của Trịnh Xuân D trước đó rồi điều khiển xe máy đi lên xã Tân Bình, thành phố Thái Bình mục đích tìm anh Nguyễn Thanh T để đánh. Khi đi đến khu vực ngã ba chợ Đền thuộc thôn Gia Hội, xã Song An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, thì Vũ Duy K gặp Nguyễn Văn H (H1), Nguyễn Hoàng H (H2), Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H (H3), Trịnh Xuân D nên Vũ Duy K dừng xe và rủ cả nhóm đến xã Tân Bình, thành phố Thái Bình chơi, cả nhóm đều đồng ý. K điều khiển xe máy Dream màu nâu, không đeo biển số chở H3 và H2; D điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave, sơn màu trắng không đeo biển số chở L và H1. Khi đi đến quán Internet Quang Vinh thuộc thôn Dinh, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình, K phát hiện thấy anh Nguyễn Thanh T đang ngồi chơi điện tử ở cạnh máy chủ gần cửa ra vào của quán. Thấy vậy, K bảo mọi người quay xe lại cách quán internet Quang Vinh khoảng 100 mét thì dừng lại. Tại đây, K nói với H1, H2, L, H3, D “hôm nọ thằng T nó đánh tôi, giờ nó đang quán internet Quang Vinh, anh em cầm đồ vào đánh cảnh cáo nó giúp tôi”, tất cả đều đồng ý. K lấy 04 thanh kiếm dắt ở cánh yếm xe máy Dream đưa cho L, H1, H3 mỗi người một thanh kiếm, K cầm một thanh kiếm. K, H1, H3, L dắt kiếm vào sườn 02 xe máy và tất cả dùng khăn, khẩu trang che mặt lại. Sau đó, H2 điều khiển xe máy Wave chở K và H3, D điều khiển xe máy Dream chở H1 và L quay lại quán intenet Quang Vinh. Khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực cách quán internet Quang Vinh khoảng 10 mét thì K bảo H2 và D dừng xe máy lại rồi K, L, H1 và H3 mỗi người lấy một thanh kiếm chạy vào trong quán Internet Quang Vinh chém nhiều nhát vào nhiều vị trí trên người anh T. Sau khi chém gây thương tích cho anh T xong thì H3 vứt kiếm lại tại hiện trường và cả nhóm lên 02 xe máy do D và H2 điều khiển bỏ chạy. Trên đường về nhà thì K, H1 và L vứt kiếm xuống sông, sau đó K, D, H1, H3 bỏ trốn khỏi địa phương. Anh T được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình sau đó chuyển đến bệnh viện Việt - Đức, Hà Nội cáp cứu, điều trị.

Ngày 15/02/2018, Cơ quan quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình đã ra quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Thành L và Nguyễn Hoàng H2.

Ngày 04/3/2018, Vũ Duy K, Trịnh Xuân D, Nguyễn Văn H1 ra đầu thú tại Công an thành phố Thái Bình.

Bản kết luận giám định thương tích số 02/18/TgT ngày 05/01/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Thái Bình kết luận về tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Thanh T: “Nhiều thương tích vùng đầu và toàn thân do vật sắc và vật sắc nhọn tác động, làm vỡ lún xương sọ vùng đỉnh phải, thủng bàng quang, thủng hỗng tràng, gãy xương bàn 4 bàn tay phải, đã được xử trí: Phẫu thuật khâu lỗ thủng hỗng tràng, bàng quang, bột cố định cẳng bàn tay phải, kết hợp dùng các loại thuốc: truyền dịch, kháng sinh, giảm đau, chống viêm, chăm sóc vết thương hàng ngày. Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư 20/2014/TT – BYT ngày 12/6/2014 của Bộ y tế: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 59%. Trong đó: Vết thương vùng mông phải làm vỡ bàng quang: 28%; thủng hỗng tràng 33%; vết thương vùng đầu làm vỡ lún xương đỉnh phải: 09%; vết thương vùng bàn tay phải làm gãy xương bàn 4 bàn tay phải: 08%. Tính theo phương pháp công lùi: 59%”.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo: Vũ Duy K, Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Trịnh Xuân D, Nguyễn Hoàng H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Những người làm chứng: Anh Bùi Đức T, chị Vũ Thị H, anh Lại Tuấn A, anh Nguyễn Đức D (đều vắng mặt tại phiên tòa), tại cơ quan điều tra những người làm chứng khai như sau:

- Anh Bùi Đức T khai: Khoảng 21 giờ ngày 25/12/2017, anh đang trông coi tại quán internet Quang Vinh thuộc thôn Dinh, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, khi đó có anh Nguyễn Thanh T đang ngồi xem phim, nghe nhạc tại bàn máy số 1 gần cửa ra vào. Anh Bùi Đức T nhìn ra cửa thì thấy có 04 nam thanh niên có độ tuổi khoảng từ 20 - 25 tuổi, đều đeo khẩu trang, trên tay mỗi người cầm 01 thanh kiếm chạy bộ từ phía ngoài đường vào trong quán Internet tiến đến chỗ anh T rồi 04 nam thanh niên chém nhiều nhát liên tiếp lên người anh T, khi anh T ngã ra 04 nam thanh niên vẫn chém anh T sau đó 04 nam thanh niên chạy ra ngoài đường phía ngã tư xã Tân Bình, thành phố Thái Bình, họ đi đâu anh T không biết.

- Chị Vũ Thị H khai: Khoảng 21 giờ ngày 25/12/2017, tại quán Cafe Tường Vi thuộc thôn Tú Linh, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình chị thấy có anh Nguyễn Thanh T tay ôm đầu chạy vào quán hô cứu em với, chị nhìn thấy trên đầu anh T có vết rách dài khoảng 10 cm rất nhiều máu chảy xuống, chị gọi anh Nguyễn Đức D (cùng là nhân viên phục vụ tại quán) băng bó vết thương cho anh T, sau đó anh Nguyễn Đức D và anh Lại Tuấn A đưa anh T đi cấp cứu. Tại quán chị nghe mọi người nói anh T bị chém tại quán Internet Quang Vinh thuộc thôn Dinh, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình.

- Anh Lại Tuấn A, anh Nguyễn Đức D khai: Khoảng hơn 20 giờ ngày 25/12/2017, khi nhìn thấy anh Nguyễn Thanh T tại quán Cafe Tường Vi thuộc thôn Tú Linh, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình, trên người anh T tại vùng đầu, mặt, tay chảy nhiều máu, nên các anh cùng mọi người trong quán chở anh T đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình. Các anh phát hiện trên cơ thể anh Nguyễn Thanh T có các vết rách: Vết rách kéo dài từ đỉnh đầu xuống gáy dài khoảng 07 cm, tại cánh tay phải có vết rách dài khoảng 06 cm, tại mông trái có vết rách dài khoảng 03 cm, cạnh sườn bên trái có vết rách dài khoảng 03 cm và nhiều vết rách ở mu bàn tay. Khoảng 23 giờ cùng ngày anh T được chuyển lên Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội điều trị.

- Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra ông Đặng Xuân C khai: Trước 21 giờ ngày 25/12/2017, ông không có mặt tại gia đình. Khoảng 21 giờ cùng ngày, ông về nhà thì thấy tại quán Internet của gia đình ông có nhiều máu trên nền nhà, ông được anh Bùi Đức T cho biết anh Nguyễn Thanh T đang ngồi tại bàn máy số 1 của quán thì bị 04 nam thanh niên bịt mặt cầm kiếm đến chém nhiều nhát, ông nhìn ra đường thì thấy có nhiều người chở Tùng đi bệnh viện để cấp cứu nên ông đã gọi điện thông báo cho người nhà anh Tùng biết sự việc. Khi cơ quan cảnh sát điều tra đến làm việc và trích xuất đầu thu camera của gia đình ông, khi xem lại thì ông nhìn thấy rõ có 04 nam thanh niên vào quán nhà ông chém liên tiếp nhiều nhát lên người anh T. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đúng như sự việc đã diễn ra như camera ghi lại.

- Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bà Đặng Thị D (mẹ đẻ anh Nguyễn Thanh T), chị Ngô Thị Thanh H (vợ của anh Nguyễn Thanh T) đều khai: Tối ngày 25/12/2017,tại quán Internet Quang Vinh thuộc thôn Dinh, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, anh Nguyễn Thanh T bị 04 nam thanh niên đeo khẩu trang, tay dùng kiếm chém nhiều nhát vào người. Anh Nguyễn Thanh T đã phải cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Việt - Đức, Hà Nội 02 lần: Lần 1, từ ngày 26/12/2017 đến ngày 05/01/2018; lần 2, từ ngày 07/02/2018 đến ngày 13/02/2018. Anh Nguyễn Thanh T bị thương tại vùng đầu, bàn tay phải và mông.Trong thời gian anh Nguyễn Thanh T điều trị tại bệnh viện thì bà Đặng Thị D và chị Ngô Thị Thanh H thay nhau chăm sóc anh T. Gia đình 06 bị cáo đã bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Nguyễn Thanh T tổng số tiền 185 triệu đồng gồm: tiền viện phí và tiền điều trị thương tích tại bệnh viện Việt Đức, tiền thuốc theo hóa đơn, tiền bồi dưỡng sức khỏe, tiền ngày công nghỉ việc của anh T và tiền ngày công người chăm sóc cho anh T. Anh T không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho anh T bất cứ khoản tiền gì khác về dân sự. Gia đình bà không có ý kiến, đề nghị gì.

Ông Trịnh Văn B (bố đẻ bị cáo Trịnh Xuân D) khai: Tối ngày 25/12/2017, con trai ông là Trịnh Xuân D điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS 29K2 - 1954 cùng Vũ Duy K, Nguyễn Thành L, Nguyễn Hoàng H2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H3 đi đến quán Internet Quang Vinh thuộc thôn Dinh, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình dùng hung khí chém gây thương tích cho anh Nguyễn Thanh T. Chiếc xe máy trên là tài sản của ông, ông mua vào tháng 3/2016 của bà Nguyễn Thị Xuân L, địa chỉ cư trú: Số nhà A9 - 109 khu chung cư T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội với giá 15.000.000 đồng. Việc mua bán không được lập thành văn bản, hiện ông chưa làm thủ tục sang tên; đăng ký xe máy vẫn mang tên bà Nguyễn Thị Xuân L. Hàng ngày ông là người sử dụng chiếc xe trên. Tối ngày 25/12/2017, ông không biết việc Trịnh Xuân D điều khiển xe máy của ông để thực hiện hành vi phạm tội, ông có nguyện vọng xin lại xe máy.

Cáo trạng số: 121/CT - VKSTP ngày 18/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh, tỉnh Thái Bình truy tố các bị cáo Vũ Duy K, Nguyễn Thành L, Nguyễn

̀ Văn H1, Trịnh Xuân D, Nguyễn Hoàng H2 về “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 134) Bô ̣ luâ ̣t hinh

̀ sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát luận tội và tranh luận: Do có mâu thuẫn với nhau từ trước nên khoảng 20 giờ 45 phút, ngày 25/12/2017, Vũ Duy K đã rủ Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H3, Trịnh Xuân D, Nguyễn Hoàng H2 đến quán Internet Quang Vinh thuộc thôn Dinh, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, để đánh cảnh cáo Nguyễn Thanh T. Vũ Duy K, Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H3 trực tiếp thực hiện hành vi dùng kiếm chém nhiều nhát vào người anh Nguyễn Thanh T; Trịnh Xuân D, Nguyễn Hoàng H2 với vai trò đồng phạm giúp sức. Hậu quả: anh T bị thương vùng mông phải làm vỡ bàng quang 28%, thủng hỗng tràng 33%; vết thương vùng đầu làm vỡ lún xương đỉnh phải 09%; vết thương vùng bàn tay phải làm gãy xương bàn 4 bàn tay phải 08%. Tính theo phương pháp cộng lùi: 59%. Kiểm sát viên phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, không có chứng cứ xác định vô tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở đó giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Duy K, Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Trịnh Xuân D, Nguyễn Hoàng H2 phạm “Tội cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; khoản 3 Điều 7; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bô ̣ luâ ̣t hinh s ự, xử phạt: Bị cáo Vũ Duy K từ 05 năm 06

̀

tháng đến 06 năm tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 05/3/2018; bị cáo Nguyễn Thành L từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 15/02/2018; bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù thời hạn tính từ ngày tạm giữ 05/3/2018. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; khoản 3 Điều 7; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự , xử

̀ phạt: Bị cáo Trịnh Xuân D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa; bị cáoNguyễn Hoàng H2 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

2.Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự thỏa thỏa thuận bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Nguyễn Thanh T của 06 bị cáo cùng gia đình các bị cáo và anh Nguyễn Thanh T, tổng số tiền là 185 triệu đồng (đã bồi thường xong).

3. Về vâ ̣t chứ ng: Áp dụng Điều 47 bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kiếm dài 57 cm, 01 ghế nhựa màu trắng, 01 áo khoác màu xanh tím than, 01 áo khoác màu đen và 01 đôi giày vải màu xanh - đen, 01 đôi giày vải màu đen, 01 quần bò màu đen, 01 đôi dép sandal và 01 áo khoác (áo phao) màu đen; tuyên trả lại 01 đầu thu camera (đã được kiểm tra và sao chép dữ liệu hình ảnh) và 01 sạc màu đen cho ông Đặng Xuân C; tuyên trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS 29K2 - 1954 cho ông Trịnh Văn B.

Các bị cáo Vũ Duy K, Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Trịnh Xuân D, Nguyễn Hoàng H2 xác định cáo trạng truy tố bị cáo về “Tội cố ý gây thương tích” là đúng tội, đúng pháp luật vì vậy các bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh và mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Kết thúc phần tranh luận các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên và Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều travụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và đó là các tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho hành vi phạm tội của các bị cáo Vũ Duy K, Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Trịnh Xuân D, Nguyễn Hoàng H2. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và cơ quan điều tra thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình,tỉnh Thái Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng là hợp pháp.

. Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhâ ̣n toàn bộ hành vi phạm tội của mình là cố ý gây thương tích cho anh Nguyễn Thanh T vào khoảng 21 giờ ngày 25/12/2018, tại quán internet Quang Vinh thuộc thôn Dinh, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, đồng thời còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ: Đơn trình báo và lời khai của bị hại là anh Nguyễn Thanh T; Bản kết luận giám định thương tích số 02/18/TgT ngày 05/01/2018 của trung tâm pháp y tỉnh Thái Bình; Sơ đồ hiện trường, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản ảnh hiện trường đều do Cơ quan công an thành phố Thái Bình lập hồi 22 giờ 25 phút ngày 25/12/2017; Lời khai của người làm chứng: Anh Bùi Đức T, chị Vũ Thị H, anh Lại Tuấn A, anh Nguyễn Đức D và ông Đặng Xuân C; bà Đặng Thị D, chị Ngô Thị Thanh H, ông Trịnh Văn B; Hóa đơn, chứng từ liên quan đến chi phí điều trị thương tích của anh Nguyễn Thanh T cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Do có mâu thuẫn với nhau từ trước nên khoảng 20 giờ 45 phút, ngày 25/12/2017, Vũ Duy K đã rủ Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H3, Trịnh Xuân D, Nguyễn Hoàng H2 đến quán Internet Quang Vinh thuộc thôn Dinh, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, để đánh anh Nguyễn Thanh T. Vũ Duy K, Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H3 trực tiếp thực hiện hành vi dùng kiếm chém nhiều nhát vào người anh Nguyễn Thanh T; Trịnh Xuân D, Nguyễn Hoàng H2 với vai trò đồng phạm giúp sức. Hậu quả: Anh T bị thương vùng mông phải làm vỡ bàng quang 28%, thủng hỗng tràng 33%; vết thương vùng đầu làm vỡ lún xương đỉnh phải 09%; vết thương vùng bàn tay phải làm gãy xương bàn 4 bàn tay phải 08%. Tính theo phương pháp cộng lùi: 59%.

. Các bị cáo Vũ Duy K, Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H3, Trịnh Xuân D, Nguyễn Hoàng H3 đều có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, xuất phát từ việc bị cáo Vũ Duy K vay nợ tiền của anh Nguyễn Thanh T các bị cáo đã dùng kiếm chém gây thương tích cho anh Nguyễn Thanh T, như vậy các bị cáo dùng hung khí nguy hiểm để phạm tội, hành vi phạm tội có tính chất côn đồ và gây thương tích cho anh Nguyễn Thanh T tại các vùng: đầu, bàn tay và mông tổng tỷ lệ thương tích (cộng lùi) 59%, là dấu hiệu định khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật hình sự; Điều 134. Tội cố ý gây thương tích: “1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; … i) Có tính chất côn đồ … 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: …; c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước ngày 01/01/2018. Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 thì hành vi phạm tội của các bị cáo Vũ Duy K, Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Trịnh Xuân D, Nguyễn Hoàng H2 đã phạm “Tội cố ý gây thương tích”quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

. Xét tính chất , mứ c đô ̣, hâ ̣u quả hành vi pha ̣m tô ̣i của các bị cáo thì thấy là nguy hiểm cho xa hô ̣̃ i,vì hành vi đó đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Giữa bị cáo K và bị hại chỉ vì xích mích cá nhân về vay nợ tiền, đã không cùng nhau tìm giải pháp thương lượng mà giải quyết mâu thuẫn thông qua việc bị cáo K rủ rê các bị cáo khác thực hiện hành vi chém gây thương tích cho bị hại. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo mới đảm bảo hiệu quả của việc cải tạo, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung. Xét đây là vụ án đồng phạm nhưng giản đơn, vì các bị cáo không bàn bạc từ trước, không có sự câu kết chặt chẽ mà chỉ thực hiện với vai trò thực hành. Tuy nhiên mức độ thực hiện tội phạm, nhân thân và khả năng nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của các bị cáo là khác nhau, vì vậy Hội đồng xét xử cần đánh giá vai trò của các bị cáo để cá thể hóa hình phạt đối với từng bị cáo khi quyết định hình phạt. Trước hết đối với bị cáo K là người chuẩn bị công cụ (kiếm) và rủ rê các bị cáo còn lại đánh bị hại, trực tiếp gây thương tích cho bị hại cho nên xếp bị cáo K với vai trò thứ nhất trong vụ án và phải chịu mức hình phạt cao nhất. Đối với các bị cáo L, H1, D, H2 sau khi nghe bị cáo K nói “Hôm nọ thằng T nó đánh tôi, giờ nó đang trong quán internet Quang Vinh, anh em cầm đồ vào đánh cảnh cáo nó giúp tôi” thì không có bị cáo nào can ngăn mà cùng tiếp nhận ngay ý chí của K, cụ thể bị cáo L và bị cáo H1 đã nhận hung khí và cùng K trực tiếp gây thương tích cho bị hại nên 02 bị cáo này xếp vai trò thứ hai trong vụ án và phải chịu mức hình phạt ngang nhau nhưng thấp hơn bị cáo K; còn lại bị cáo D, bị cáo H2 đồng tình điều khiển 02 xe máy để chở các bị cáo K, L, H1, H2 đi gây thương tích cho bị hại nên 02 bị cáo này xếp sau cùng trong vụ án có vai trò là đồng phạm giúp sức và áp dụng mức hình phạt ngang nhau.

. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy: Cả 05 bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa 05 bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, 05 bị cáo đều đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho 05 bị cáo; các bị cáo: K, D, H1 đầu thú tại cơ quan điều tra; các bị cáo: H1, D có thời gian phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam; bị cáo L có bố đẻ là ông Nguyễn Văn L là người có công với cách mạng. Vì vậy cả 05 bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo L có 01 tiền sự vì có hành vi xâm hại sức khỏe của người khác nên ngày 30/5/2017 bị Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền đã chấp hành xong), nhân thân xấu vì năm 2009 bị Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính, năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Bị cáo H1 có nhân thân xấu, năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện từ Liêm, Hà Nội xử phạt 07 tháng 22 ngày tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo D, bị cáo H2 đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo D và bị cáo H2, 02 bị cáo này có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt không gây nguy hiểm cho xã hội.

. Đối với Nguyễn Văn H3, sinh ngày 13/6/1992; đăng ký hộ khẩu trường trú: Thôn G, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình là đồng phạm trong vụ án, sau khi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định khởi tố bi can, ra lệnh truy nã đối với Nguyễn Văn H3. Do không xác định được H3 hiện đang ở đâu nên chấp nhận việc Cơ quan điều tra ra Quyết định tạm đình chỉ ngày 06/6/2018, bị can khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

. Về trách nhiệm dân sự: 05 bị cáo đã bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại với tổng số tiền 185 triệu đồng gồm: tiền viện phí, tiền điều trị theo hóa đơn, chứng từ của bệnh viện Việt Đức, tiền ngày nghỉ việc, bồi dưỡng sức khỏe và tiền công người phục vụ, bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường khoản tiền gì khác về dân sự nên chấp nhận và không phải giải quyết tại bản án này.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thanh kiếm dài 57cm thu tại hiện trường là do các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 đầu thu camera (đã được kiểm tra và sao chép dữ liệu hình ảnh sang thiết bị USB dùng kết nối với máy tính để trong hồ sơ vụ án) và 01 sạc màu đen là tài sản của ông Đặng Xuân C, tại phiên tòa ông Đặng Xuân C xin được nhận lại vì vậy cần trả lại cho ông Đặng Xuân C là phù hợp. Đối với 01 ghế nhựa màu trắng đã vỡ không còn giá trị sử dụng là tài sản của ông Đặng Xuân C, ông C không yêu cầu xin lại nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với: 01 áo khoác màu xanh tím than thu của bị cáo Nguyễn Hoàng H2; 01 áo khoác màu đen và 01 đôi giày vải màu xanh - đen thu của bị cáo Nguyễn Duy K, 01 đôi giày vải màu đen thu của bị cáo Nguyễn Thành L; 01 quần bò màu đen; 01 đôi dép sandal và 01 áo khoác (áo phao) màu đen thu của bị cáo Trịnh Xuân D, xét thấy đều không còn giá trị sử dụng và các bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, BKS 29K2 - 1954 qua điều tra xác định chiếc xe mô tô trên của ông Trịnh Văn B là bố đẻ của bị cáo Trịnh Xuân D. Ngày 25/12/2017, ông B không biết bị cáo D sử dụng xe máy này để thực hiện hành vi phạm tội, ông có yêu cầu nhận lại tài sản nên cần tuyên trả lại cho ông Trịnh Văn B là đúng pháp luật. Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Air blade màu đen - bạc, treo biển số 29D1 - 826.79 và 01 đăng ký xe máy giả thu của anh Nguyễn Thanh T tại hiện trường, qua điều tra xác minh, cơ quan điều tra chưa xác minh được nguồn gốc và chủ sở hữu xe nên đã tách ra để tiếp tục xử lý theo thẩm quyền, vì vậy cần chấp nhận và không giải quyết trong vụ án này.

. Về án phí: Các bị cáo có tên trên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Các bị cáo có tên trên có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh và mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

1. Căn cứ: điểm c khoản 3 Điều 134; khoản 3 Điều 7; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 47; Điều 17; Điều 58 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự; Điều 38 Bộ

̀ luật hình sự (đối với các bị cáo Vũ Duy K, Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1); Điều 65; Điều 54 Bộ luật hình sự (đối với các bị cáo Trịnh Xuân D, Nguyễn Hoàng H2). Áp dụng Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố các bị cáo Vũ Duy K, Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Trịnh Xuân D, Nguyễn Hoàng H2 phạm “Tội Cố ý gây thương tích”.

Xử pha ̣t:

- Bị cáo Vũ Duy K 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 05/3/2018.

Bị cáo Nguyễn Thành L 05 (năm) năm tù thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 15/02/2018.

Bị cáo Nguyễn Văn H1 05 (năm) năm tù thời hạn tính từ ngày tạm giữ 05/3/2018.

- Bị cáo Trịnh Xuân D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa.

- Bị cáo Nguyễn Hoàng H2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trịnh Xuân D, bị cáo Nguyễn Hoàng H2 cho UBND xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình để giám sát, giáo dục. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hành phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự”.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết tại bản án này.

3. Về vâ ̣t chứ ng:

- Tuyên trả lại 01 đầu thu camera (đã được kiểm tra và sao chép dữ liệu hình ảnh) và 01 sạc màu đen cho ông Đặng Xuân C, sinh năm 1952; nơi cư trú: Thôn D, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kiếm dài 57 cm, 01 ghế nhựa màu trắng đã vỡ thu của ông Đặng Xuân C; 01 áo khoác màu xanh tím than thu của bị cáo Nguyễn Hoàng H2; 01 áo khoác màu đen và 01 đôi giày vải màu xanh - đen thu của bị cáo Nguyễn Duy K, 01 đôi giày vải màu đen thu của bị cáo Nguyễn Thành L; 01 quần bò màu đen, 01 đôi dép sandal và 01 áo khoác (áo phao) màu đen thu của bị cáo Trịnh Xuân D.

- Tuyên trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS 29K2 - 1954 cho anhTrịnh Văn B, sinh năm 1975, nơi cư trú: Thôn Q, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Vật chứng có đặc điểm như ghi tại: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/7/2018 giữa Công an thành phố Thái Bình và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình.

4. Án phi: Các bị cáo Vũ Duy K, Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Trịnh Xuân

́ D, Nguyễn Hoàng H2 buộc mỗi bị cáo phải nô ̣p 200.000 đồng án phi hinh sự sơ thẩm .

́ ̀

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Án tuyên công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/8/2018.

̀

̉ SƠ THẨ Nơi nhận:

T/M HỘI ĐÔNG XÉ T XƯ

M

- Ngườ i tham gia tố tu ̣ng;

Thẩm phá n – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;

- Chi cu ̣c THADS TP.Thái Bình, tỉnh Thái Bình;

- Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;

- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Binh, tỉnh Thái Bình;̀

- VKS tỉnh Thái Bình;

- Lưu hồ sơ vu ̣ án.

Nguyễn Thị Hân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Cỡ chữ