vanban.org

Bản án 1221/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Buộc ông Đặng Hoàng T1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền còn nợ tính đến ngày 17/9/2025 là 476.278.765 đồng, trong đó nợ gốc 193.571.792 đồng, nợ lãi 282.706.973 đồng. Nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 18/9/2025 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Giấy đề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1221/2025/DS-ST
Ngày: 17/9/2025
V/v: Tranh chấp Hợp đồng thẻ tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thanh Hương.

2. Ông Nguyễn Đình Thức.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1005/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 305/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 235/2025/QĐST-DS ngày 25 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V; Trụ sở: 89 L, phường Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Nhật T; Địa chỉ: Tầng A, số I C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 2395/2025/UQ-VPB ngày 17/6/2025). Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Đặng Hoàng T1, sinh năm 1971; Thường trú: 2/4/31/12 L, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: F Â, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/9/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V do ông Trương Nhật T đại diện trình bày:

Ngày 20/6/2018, Ngân hàng thương mại cổ phần V (nguyên đơn) và ông Đặng Hoàng T1 (bị đơn) có ký kết Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng Đ (gọi tắt là Hợp đồng), hạn mức tín dụng 193.700.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, phục vụ nhu cầu đời sống, lãi suất 35.88%/ năm.

Trong quá trình sử dụng thẻ, bị đơn còn nợ lại số tiền 193.571.792 đồng, sau đó thì không thanh toán nữa nên nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số gốc còn nợ là 193.571.792 đồng và tiền lãi theo thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng. Yêu cầu thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Toà án đã tổ chức cho các bên hoà giải nhưng không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt nên Toà án lập biên bản không tiến hành hoà giải được và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 17/9/2025 là 476.278.765 đồng, trong đó: nợ gốc là 193.571.792 đồng, nợ lãi 282.706.973 đồng. Nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 18/9/2025 theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong số tiền còn nợ. Yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ trên một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án theo quy định tại Điều 48, Điều 51, Điều 63, Điều 203, Từ Điều 239 đến Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án: Căn cứ Hợp đồng được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp quy định pháp luật. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán được các bên thỏa thuận trong hợp đồng là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và nghe ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

- Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, yêu cầu ông T1 thanh toán số nợ còn thiếu của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dịch vu ngân hàng điện tử mà hai bên đã ký kết. Hội đồng xét xử nhận định vụ án trên là tranh chấp về hợp đồng thẻ tín dụng. Bị đơn ông Đặng Hoàng T1 có địa chỉ cư trú tại phường T nên Tòa án nhân dân Khu vực 9 – TP . thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Về thủ tục xét xử vắng mặt nguyên đơn: Đại diện nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn.

- Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà cho bị đơn theo quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của các đương sự:

- Về yêu cầu thanh toán số tiền gốc và lãi:

Xét Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến 17/9/2025 là 476.278.765 đồng, trong đó nợ gốc 193.571.792 đồng, nợ lãi 282.706.973 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 20/6/2018 và phần phê duyệt của Ngân hàng thể hiện thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 388, Điều 389 và Điều 405 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có giá trị để thực hiện.

Xét trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 17/9/2025 là 476.278.765 đồng, trong đó nợ gốc 193.571.792 đồng, nợ lãi 282.706.973 đồng Nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 18/9/2025 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong số tiền còn nợ, là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có căn cứ chấp nhận.

Xét, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để trình bày ý kiến. Do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

- Về thời hạn và phương thức thanh toán: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ trên một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được các bên thỏa thuận trong hợp đồng, đã gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ trên một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn là 476.278.765 đồng, do đó, án phí bị đơn phải chịu là 23.051.151 đồng.

Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí là 7.528.840 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0045342 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Tân Phú (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh – Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Buộc ông Đặng Hoàng T1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền còn nợ tính đến ngày 17/9/2025 là 476.278.765 đồng, trong đó nợ gốc 193.571.792 đồng, nợ lãi 282.706.973 đồng. Nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 18/9/2025 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 20/6/2018 cho đến khi thanh toán xong số tiền còn nợ.

Thời hạn thanh toán: Một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Đặng Hoàng T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 23.051.151 đồng.

- Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí là 7.528.840 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0045342 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Tân Phú (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh – Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh).

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3/ Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng thương mại cổ phần V và ông Đặng Hoàng T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ