vanban.org

Bản án 1220/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 25/12/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 498/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về áp dụng pháp luật.

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Ngô Hữu Phú Q 05 (năm) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/4/2024 đến n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ HỒ T - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 498/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về áp dụng pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 304 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1220/2024/HS-PT
Ngày: 25 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh Thúy

Các Thẩm phán:

Ông Phan Văn Yên

Ông Phan Tô Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Phú Cường, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 1128/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Ngô Hữu Phú Q. Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 498/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo bị kháng nghị:

Ngô Hữu Phú Q, sinh ngày 28/12/2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông; chỗ ở hiện tại: Tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô N và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 02/4/2024, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Q: Ông Nguyễn Tấn T, Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

(Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Lê Hồ T1 không kháng cáo, không bị kháng nghị, không liên quan đến kháng nghị nên Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 16/4/2023, Công an P1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính quán C (số F B, Phường A, quận B), phát hiện Lê Hồ T1, Ngô Hữu Phú Q, Lê Thành H1 đang bày, chụp ảnh một số công cụ hỗ trợ, vũ khí thô sơ, nên tiến hành lập biên bản, thu giữ của Lê Hồ T1: 07 dao xếp lưỡi dao bằng kim loại, 01 súng ngắn hiệu Chiefs Special số R170685984, 03 vỏ đạn bằng kim loại; thu giữ của Ngô Hữu Phú Q: 15 dao xếp các loại, 02 lưỡi dao bằng kim loại, 01 súng ngắn hiệu HK màu đen, 01 hộp tiếp đạn bằng kim loại; thu giữ của Lê Thành H1: 03 dao tự chế (dài từ 16cm đến 25cm), 01 tay đấm bằng kim loại.

Tiến hành khám xét chỗ ở của Lê Hồ T1, Ngô Hữu Phú Q, thu giữ của Lê Hồ T1: 63 viên đạn, 06 súng ngắn, 02 kiếm, 19 dao xếp và dao tự chế, 01 rìu, 01 ba trắc nhựa, 04 vĩ đạn/35 vòng đạn pháo, 01 hủ chứa viên nhựa màu trắng không rõ số lượng; thu giữ của Ngô Hữu Phú Q: 01 viên đạn màu vàng đồng, có ghi dòng chữ “38 73”; 20 viên đạn; 2 dao, 01 lưỡi dao, 01 hộp tiếp đạn; riêng tại chỗ ở của Lê Thành H1 không có tang vật liên quan hành vi.

* Kết luận giám định số 4114/KL-KTHS ngày 16/05/2023 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận:

- 58 viên đạn ký hiệu từ số 14 đến số A, gồm: 02 viên đạn cỡ 9 x 18mm, ký hiệu “38-73” (thu của Lê Hồ T1 01 viên, thu của Ngô Hữu Phú Q 01 viên); 02 viên đạn cỡ 7,62 x 25mm ký hiệu “S&B-74” và 54 viên đạn cỡ 9 x 19mm, ký hiệu “S&B” (thu của Lê Hồ T1), thuộc nhóm vũ khí quân dụng;

- 01 ổ súng ngắn ổ quay, không có số; 01 ổ súng ngắn, không có số; 01 ổ súng ngắn, thân súng có chữ Austria; 01 ổ súng ngắn, hiệu Austria, thân súng có chữ số KH18J01440; 01 ổ súng ngắn, hiệu VP9, thân súng có chữ số KH16D03363; 01 ổ súng ngắn, hiệu Killer, thân súng có chữ số FBF203184 và 01 ổ súng ngắn, hiệu Polizia dl S, thân súng có chữ số D9324Z thuộc nhóm đồ chơi nguy hiểm bị cấm;

- 26 viên đạn; 01 ổ súng ngắn ổ quay, thân súng có chữ số R170685984 và 01 gậy cao su thuộc nhóm công cụ hỗ trợ;

- 04 côn nhị khúc 02 đầu bằng gỗ; 03 dụng cụ có cán, lưỡi sắc, nhọn bằng kim loại, dài khoảng 100cm; 44 dụng cụ có cán, lưỡi sắc, nhọn bằng kim loại, dài khoảng 15cm - 30cm; 01 dụng cụ tay đấm bằng kim loại và 01 rìu có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí thô sơ (bút lục: 61-67).

Tại Cơ quan điều tra, Lê Hồ T1 và Ngô Hữu Phú Q khai nhận:

Lê Hồ T1 và Ngô Hữu Phú Q có cùng sở thích sưu tầm phế liệu chiến tranh và dao xếp nên kết bạn với nhau. Năm 2021, Lê Hồ T1 tạo tài khoản Facebook tên “Phúc Hoàng L” từ số điện thoại 0942661696 truy cập vào các trang mạng xã hội Facebook “Phế liệu chiến tranh”, “Kỷ vật chiến tranh”, “Sản phẩm của lính” để tìm mua các loại dao xếp, súng, viên đạn,…. Qua truy cập vào các tài khoản Facebook này, T1 biết đối tượng tên “H2” (không rõ lai lịch, không nhớ số điện thoại) đăng bán các loại đạn nên T1 nhắn tin thỏa thuận mua và được H2 báo giá 15.000đồng/viên, thanh toán tiền trực tiếp cho người giao hàng khi nhận hàng. Lê Hồ T1 đặt mua 02 lần (không nhớ thời gian ), cụ thể:

Lần thứ nhất: Lê Hồ T1 đặt mua 54 viên đạn màu vàng đồng, ký hiệu “S&B 9x19 13”, chiều dài khoảng 2,8cm, với giá 810.000 đồng. H2 gửi hàng thông qua Công ty vận chuyển (không còn nhớ tên Công ty) giao đến địa chỉ và liên lạc đến số điện thoại do Lê Hồ T1 cung cấp, T1 trả đủ tiền cho người giao hàng.

Lần thứ hai: Lê Hồ T1 rủ Ngô Hữu Phú Q cùng đặt mua 26 viên đạn mã tử, phương thức giao hàng và thanh toán như lần thứ nhất, ngoài ra, T1 được H2 tặng thêm 04 viên đạn (gồm: 02 viên đạn màu vàng đồng, ký hiệu “38 73” và 02 viên đạn màu vàng đồng, ký hiệu “S&B 7.62x25 14”). Sau đó, T1 giao lại cho Q 20 viên đạn mã tử và tặng cho Q 01 viên đạn màu vàng đồng ký hiệu “38 73” để bổ sung vào bộ sưu tập của Q.

Ngày 16/4/2023, Lê Hồ T1 rủ Ngô Hữu Phú Q, Lê Thành H1 cùng đem theo sản phẩm mới đến quán cà phê Rest P để cùng nhau xem, tìm hiểu và chụp ảnh lưu lại làm kỷ niệm, thì bị Công an P1 kiểm tra, thu giữ. Lê Hồ T1 và Ngô Hữu Phú Q cất giữ số vật chứng này tại phòng riêng với mục đích sưu tầm do sở thích cá nhân, ngoài ra không còn mục đích nào khác. Quá trình điều tra, Lê Hồ T1 và Ngô Hữu Phú Q đã khai nhận hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ và vật chứng mà Cơ quan An ninh điều tra đã thu thập (bút lục 143, 156, 157, 159, 160; 175, 176, 185- 179).

* Vật chứng (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 40/2024.VC ngày 17/5/2024 của Q1- Bộ Tư lệnh Thành phố H và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2024 của Phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp, Công an Thành phố H), gồm:

- 57 viên đạn, gồm: 54 viên đạn màu vàng đồng, ký hiệu “&B 9x19 13”, 01 viên đạn màu vàng đồng, ký hiệu “38 73” và 02 viên đạn màu vàng đồng, ký hiệu “S&B7.62x25 14”, thu giữ của Lê Hồ T1;

- 01 viên đạn màu vàng đồng, in ký hiệu “38 73” thu giữ của Ngô Hữu Phú Q (bút lục: 214, 215).

- 01 điện thoại di động hiệu S1 8, màu đen, số IMEI 1: 355731096526562, số IMEI 2: 355732096526560, thu giữ của Ngô Hữu Phú Q.

Tại bản Cáo trạng số 348/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 11/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị can Lê Hồ T1 và Ngô Hữu Phú Q có lý lịch và hành vi phạm tội nêu trên, về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 498/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm i điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Hữu Phú Q 05 (năm) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/4/2024 đến ngày 27/9/2024. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Ngô Hữu Phú Q, nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với Lê Hồ T1, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/10/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Ngô Hữu Phú Q.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Ngô Hữu Phú Q thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, đồng thời không đồng ý với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Nguyễn Tấn T trình bày: bị cáo chỉ tàng trữ 01 viên đạn là vũ khí quân dụng do được Lê Hồ T1 cho, mục đích tàng trữ do sở thích sưu tầm để trưng bày chứ không có mục đích nào khác; bị cáo là đồng phạm có vai trò thứ yếu, hành vi phạm tội không đáng kể nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Bị cáo có tuổi đời còn trẻ, đang là sinh viên, còn đi học nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 05 tháng 25 ngày tù, bằng thời gian bị tạm giam để bị cáo có cơ hội tiếp tục được học tập là phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xet xử không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” đối với bị cáo là không đúng quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa một phần bản án sơ thẩm, không áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, các phần quyết định khác giữ nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Ngô Hữu Phú Q thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 16/4/2023, tại quán C địa chỉ số F B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Công an P1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện Ngô Hữu Phú Q đang bày, chụp ảnh một số công cụ hỗ trợ, vũ khí thô sơ, nên tiến hành lập biên bản, thu giữ của Ngô Hữu Phú Q: 15 dao xếp các loại, 02 lưỡi dao bằng kim loại, 01 súng ngắn hiệu HK màu đen, 01 hộp tiếp đạn bằng kim loại.

Tiến hành khám xét chỗ ở của Ngô Hữu Phú Q tại địa chỉ: A Bis Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, thu giữ: 01 viên đạn màu vàng đồng, có ghi dòng chữ “38 73”; 20 viên đạn; 2 dao, 01 lưỡi dao, 01 hộp tiếp đạn.

Qua kết luận giám định xác định: trong số các vật chứng thu giữ của Ngô Hữu Phú Q thì có 01 viên đạn cỡ 9 x 18mm thu giữ tại nhà bị cáo thuộc nhóm vũ khí quân dụng; các vật chứng còn lại thuộc nhóm đồ chơi nguy hiểm bị cấm; công cụ hỗ trợ và tác dụng tương tự như vũ khí thô sơ.

Tại các văn bản trả lời kết quả xác minh nguồn gốc viên đạn thu từ Ngô Hữu Phú Q, T2, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C1, Cục trang bị và K1 – Bộ C1 xác định: Các đơn vị này không quản lý cấp phát, không thất lạc; cơ sở dữ liệu quản lý vũ khí, vật liệu nổ không có dữ liệu về số đạn này; không có cơ sở để xác minh nguồn gốc số đạn quân dụng này.

Với các hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Ngô Hữu Phú Q phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đối với hành vi tàng trữ số vật chứng thuộc nhóm đồ chơi nguy hiểm bị cấm; công cụ hỗ trợ và tác dụng tương tự như vũ khí thô sơ của Ngô Hữu Phú Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã tách vụ án xử lý theo quy định pháp luật.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo Q chưa có tiền án, tiền sự nên lần phạm tội này là phạm tội lần đầu nhưng tội phạm do bị cáo thực hiện được quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 7 năm tù là loại tội phạm nghiêm trọng, trong khi bị cáo phạm tội với vai trò là người thực hành nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là chưa đúng. Tuy nhiên, xét bị cáo chỉ tàng trữ 01 viên đạn là vũ khí quân dụng, mục đích và động cơ tàng trữ là nhằm sưu tầm để trưng bày do sở thích cá nhân chứ không có mục đích khác; viên đạn có được cũng do được T1 cho. Đánh giá số lượng vũ khí tàng trữ, động cơ mục đích phạm tội của bị cáo và nguồn gốc của viên đạn nêu trên cho thấy tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện có phần hạn chế. Hơn nữa, bị cáo phạm tội khi tuổi đời còn trẻ, đang là sinh viên đại học. Bị cáo cũng đã bị tạm giam 05 tháng 25 ngày, thời gian đủ dài để răn đe, giáo dục bị cáo. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo mức án bằng thời gian bị cáo bị tạm giam là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng, tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục học tập, trở thành công dân có ích cho xã hội. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở chấp nhận một phần.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm về áp dụng pháp luật như phân tích tại mục [2]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Ngô Hữu Phú Q không phải chịu theo quy định pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 498/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về áp dụng pháp luật.

Tuyên xử:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Ngô Hữu Phú Q 05 (năm) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/4/2024 đến ngày 27/9/2024. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

[2] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Ngô Hữu Phú Q không phải chịu.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ