- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Phú T - đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (điều 288 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Cao Phú T phạm tội “ Sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2026/HS-ST Ngày 15 tháng 7 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Văn Quân
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Tới và bà Nguyễn Thị Mai Hoa.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Chuỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2026/TLST- HS ngày 04 tháng 6 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 124/2026/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo:
Cao Phú T, sinh ngày 25/01/2003, tại tỉnh ĐT; số CCCD: 087203014209; nơi đăng ký thường trú số nhà 95, tổ 24, khóm KN, phường SĐ, tỉnh ĐT; chỗ ở: Số nhà 08A, tổ 24, khóm KN, phường SĐ, tỉnh ĐT; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Cao Thế Danh và bà Nguyễn Thị Kim T; vợ con: Chưa có.
- Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HSST, ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Cao Phú T 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hoá trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”.
- Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Võ Thị Kim N – sinh năm 2002. Địa chỉ: ấp 3, xã ML, tỉnh ĐT. (có mặt)
+ Chị Nguyễn Thị Kim T – sinh năm 1983. Địa chỉ: Khóm KN, P SĐ, tỉnh ĐT. (có mặt)
+ Anh TNguyễn Phước L – sinh năm 1999. Địa chỉ: Tổ 12, ấp BM, xã MH, ĐT. (vắng mặt)
+ Anh Trang Sỉ N – sinh năm 2003. Địa chỉ: SN 216/1 ấp ĐQ, SĐ, ĐT. (vắng mặt)
+ Anh Phạm Hùng C – sinh năm 1996. Địa chỉ: KP TB, P BP, DN. (vắng mặt)
+ Chị Lương Thị G – sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn QT, xã HT, TH. (vắng mặt)
+ Anh Lương Việt A – sinh năm 1995. Địa chỉ: DA. (vắng mặt)
+ Anh Lê Thanh G – sinh năm 1996. Địa chỉ: Số 27B/281 QT, P HT, TH. (vắng mặt)
+ Chị Vũ Thị Hoài Th – sịnh năm 1990. Địa chỉ: Thôn TN, xã HT, TH. (vắng mặt)
+ Chị Nguyễn Thị Vân Anh – sinh năm 1990. Địa chỉ: Số 20, HT, P HT, TH. (vắng mặt)
+ Chị Nguyễn Thị H - sinh năm 1998. Địa chỉ: Công nhân Cty WS TQ, chi nhánh xã CH, TQ. (vắng mặt)
+ Anh Hà Văn D – sinh năm 1999. Địa chỉ: Thôn An Phú, xã TA, TQ. (vắng mặt)
+ Anh Cà Anh H – sinh năm 1998. Địa chỉ: Tổ 11, Phường CS, SL. (vắng mặt)
+ Chị Võ Thị V – sinh năm 1980. Địa chỉ: Khối 8 BT, TV, NA. (vắng mặt)
+ Chị Bùi Thị Q – sinh năm 1984. Địa chỉ: Khối 13 TT, TV, NA. (vắng mặt)
+ Anh Nguyễn Thanh M – sinh năm 1990. Địa chỉ: SN 36 TL, D, HT. (vắng mặt)
+ Chị Vũ Thị L – sinh năm 1982. Địa chỉ: CC, TH, phường HT. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Phú T là đối tượng đã bị kết án 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Thu thập, tàng trữ, mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”. Do cần tiền tiêu xài nên T đã nảy sinh ý định thu thập thông tin cá nhân của người khác sau đó bán lại cho những người có nhu cầu để kiếm lời.
Để thực hiện ý định này, khoảng cuối năm 2024, T sử dụng 01 (một) điện thoại Iphone 14 pro max, 01 (một) điện thoại Gemi MI10 và 01 máy tính tạo nhiều tài khoản mạng xã hội Telegram mang tên: “Datatele 2024” (username: @datatele123 - được đăng ký bằng số điện thoại 0379189391, chủ thuê bao đăng ký là Trần Thị Hương Trà, sinh năm 2009, trú tại xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị); “Kendy Nguyễn” (username: @datatele2312 - được đăng ký bằng số điện thoại 0783772770, chủ thuê bao đăng ký Nguyễn Thị Kim T - mẹ của Cao Phú T) và “Tống Vũ Đăng Kh” (username: @datachatluong02 - được đăng ký bằng số điện thoại 0769333215, chủ thuê bao đăng ký là 0769333215 được đăng ký thông tin bởi Nguyễn Phước L, sinh năm 1999 - bạn bè xã hội với T). Sau đó, T dùng các tài khoản Telegram trên tham gia vào các hội nhóm chuyên chia sẻ, mua bán dữ liệu thông tin cá nhân với mục đích tìm kiếm, thu thập nguồn dữ liệu thông tin cá nhân của người khác.
Trong quá trình tham gia các hội nhóm Telegram, Cao Phú T được một tài khoản Telegram có tên tài khoản chữ Trung Quốc chia sẻ một kho dữ liệu có chứa nhiều thông tin của các cá nhân (T không nhớ rõ thông tin tài khoản Telegram đã chia sẻ kho dữ liệu cho mình). Gói dữ liệu này chứa hàng nghìn thông tin cá nhân của nhiều người trong và ngoài nước thuộc các lĩnh vực khác nhau và được chia theo nhóm ngành nghề, gồm nhiều trường thông tin như: Họ và tên, ngày sinh, số CMND/CCCD/Hộ chiếu/MST, số điện thoại, địa chỉ nơi ở/nơi thường trú…Mặc dù nhận thức rõ đây là dữ liệu thông tin cá nhân của nhiều người được chia sẻ trái phép trên không gian mạng, không được sự đồng ý của chủ thể thông tin nhưng Cao Phú T vẫn lưu giữ, phân loại, chỉnh sửa và sử dụng để bán nhằm thu lợi bất chính.
Sau khi nhận dữ liệu, để đa dạng dữ liệu và thuận tiện cho việc rao bán, Cao Phú T sàng lọc, xáo trộn thông tin dữ liệu của các cá nhân trong các gói dữ liệu với nhau thành các nhóm để bán theo nhu cầu của người mua (ví dụ gói dữ liệu thông tin về sinh viên gồm họ tên, độ tuổi, ngày tháng năm sinh, số điện thoại, căn cước công dân...gói dữ liệu đăng ký hộ kinh doanh theo vùng miền, dữ liệu về ngành nghề giáo viên, kế toán...). Sau đó, T sử dụng các tài khoản Telegram đăng bài, rao bán trái phép các gói dữ liệu thông tin cá nhân của người khác trên các hội nhóm Telegram và Facebook. Khi có người liên hệ hỏi mua, T chia sẻ trước 01 gói chứa khoảng 50 - 100 dữ liệu (trường dữ liệu của 50 đến 100 cá nhân) để người mua kiểm tra trước, nếu người mua xác định dữ liệu phù hợp nhu cầu sử dụng thì T và người mua sẽ tiếp tục thỏa thuận mua bán gói dữ liệu lớn hơn chứa từ 500 đến khoảng 10.000 dữ liệu, cá biệt có những gói dữ liệu lên tới hàng chục nghìn dữ liệu cá nhân. Tùy vào số lượng và thông tin trong từng gói dữ liệu Cao Phú T và người mua thỏa thuận giá tiền cho từng gói dữ liệu.
Bằng phương thức, thủ đoạn trên, từ tháng 12/2024 đến tháng 12/2025, Cao Phú T đã thực hiện giao dịch mua bán nhiều lần với nhiều gói dữ liệu khác nhau cho 03 tài khoản Telegram có tên tài khoản “小刀 Tiểu Đao”, “LiLing Pro KYC (121# Zalo, Facebook 帐户”, “小红 Quỳnh Triệu $
”, cụ thể như sau:
1. Đối với tài khoản Telegram “小刀 Tiểu Đao”:
Từ ngày 29/12/2024 đến ngày 30/3/2025, Cao Phú T thực hiện 15 lần giao dịch mua bán nhiều gói dữ liệu cá nhân khác nhau như: “1k hssv miền nam.xlsx”, “miền nam nữ.xlsx”, “5000 xã hội miền nam.xlsx”, “5000 công chức miền nam.xlsx” … đây là các gói dữ liệu chứa khoảng 1000 – 12.000 dữ liệu thông tin của các cá nhân thuộc nhiều ngành nghề như học sinh, sinh viên, công chức, nữ miền nam... Sau khi kiểm tra dữ liệu, đồng ý mua bán, T cung cấp số tài khoản ngân hàng để người mua “小刀 Tiểu Đao” sử dụng các tài khoản ngân hàng chuyển tiền cho T, cụ thể như sau:
- Người mua sử dụng tài khoản số 980725294271 mở tại ngân hàng OCB đứng tên Đặng Văn C, sinh năm 1992, trú tại xã HT, tỉnh LĐ chuyển 07 lần với tổng số tiền 60.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng số 070113314761 mở tại ngân hàng Sacombank đứng tên Võ Thị Kim N, sinh năm 2002, trú tại ấp 3, xã ML, tỉnh ĐT (là người yêu sống chung với T).
- Người mua sử dụng 02 tài khoản ngân hàng số 0368961324 mở tại ngân hàng MBbank và số 06550781104 mở tại ngân hàng BIDV đều đứng tên Phạm Hùng C, sinh năm 1996, trú tại khu phố TB, phường BP, tỉnh ĐN, chuyển 02 lần với tổng số tiền là 10.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng số 101883036043, mở tại ngân hàng Vietinbankcủa Trang Sỉ N, sinh năm 2003, trú tại ấp ĐQ, xã TKĐ, tỉnh ĐT.
- Người mua sử dụng tài khoản ngân hàng số 0148100001746007 mở tại ngân hàng OCB đứng tên Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 2000, trú tại phường Vinh Lộc, tỉnh Nghệ An chuyển 06 lần tổng số tiền 25.500.000 đồng đến số tài khoản 070113314761 của Võ Thị Kim N.
Tổng 15 lần giao dịch mua bán các gói dữ liệu cá nhân với tài khoản Telegram “小刀 Tiểu Đao”. Cao Phú T đã thu lợi bất chính tổng số tiền là 95.500.000 đồng.
2. Đối với tài khoản Telegram “LiLing Pro KYC (121# Zalo, Facebook 帐户”:
Từ ngày 03/12/2025 đến ngày 08/12/2025, Cao Phú T thực hiện 07 lần giao dịch mua bán nhiều gói dữ liệu cá nhân khác nhau như: “3K ke toan 1 0312.xlsx”, “2k tai chinh 1 0312.xlsx”, “3000 cong chuc 0512.xlsx”… đây là các gói dữ liệu chứa khoảng 2000 – 12.000 dữ liệu thông tin của các cá nhân thuộc nhiều ngành nghề như kế toán, tài chính, công chức... Sau khi kiểm tra dữ liệu, đồng ý mua bán, người mua “LiLing Pro KYC (121# Zalo,Facebook 帐户” sử dụng ví điện tử chuyển đồng Tether (USDT) mạng TRC20 chuyển đến ví điện tử USDT có địa chỉ ví“TJpcG2ApGLwviNaieDeKGCFf7m8dva4bTT” của Cao Phú T mở trên sàn giao dịch tiền điện tử Remitano.
Nhận được USDT, Cao Phú T bán USDT để trực tiếp quy đổi sang Việt Nam đồng trên sàn giao dịch tiền điện tử rồi rút tiền về tài khoản của Cao Phú T số 1022195223 mở tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam hoặc Cao Phú T chuyển USDT sang ví điện tử của người khác. Tuy nhiên, T không nhớ đã chuyển cho ai, vào ví điện tử nào và nhằm mục đích gì.
* Về cách quy đổi tỷ giá USDT sang tiền Việt Nam:
Cao Phú T khai nhận: đã trực tiếp quy đổi USDT thu được từ việc bán dữ liệu cá nhân căn cứ vào tỷ giá trên sàn giao dịch tiền điện tử thành tiền Việt Nam để chuyển về tài khoản ngân hàng của mình. Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không quy định tỷ giá quy đổi USDT thành tiền Việt Nam trên các sàn giao dịch tiền điện tử. Do vậy, cơ quan điều tra đã căn cứ vào lịch sử giao dịch tài khoản tiền điện tử của Cao Phú T trên sàn giao dịch để xác định giá trị dữ liệu thông tin mà bị cáo đã bán. Đối với các giao dịch Cao Phú T chuyển USDT thu được từ việc bán dữ liệu từ ví tiền điện tử của mình cho các ví tiền điện tử khác, cơ quan điều tra áp dụng tỷ giá quy đổi thấp hơn trong tỷ giá USDT và tiền Việt Nam đồng của ngày liền trước và ngày liền sau của giao dịch để xác định giá trị mua bán thông tin, dữ liệu đối với Cao Phú T.
Do vậy, tổng số tiền USDT Cao Phú T đã thu lợi bất chính từ việc mua bán 07 lần dữ liệu cá nhân với tài khoản Telegram “LiLing Pro KYC (121# Zalo, Facebook 帐户” là 3967 USDT. Quy đổi sang Việt Nam đồng theo thời điểm giao dịch tại sàn Remitano là 105.336.965 đồng.
3. Đối với tài khoản Telegram “小红 Quỳnh Triệu $
”:
Từ ngày 17/5/2025 đến ngày 01/7/2025, Cao Phú T thực hiện 05 lần giao dịch mua bán nhiều gói dữ liệu cá nhân khác nhau như: “f viber1.xlsx”, “2000 data viber.xlsx”, “10k nữ vn in usa viber 29-06.xlsx”… đây là các gói dữ liệu chứa khoảng 400 – 10.000 dữ liệu thông tin tài khoản viber. Sau khi kiểm tra dữ liệu, đồng ý mua bán, người mua “小红 Quỳnh Triệu $
” sử dụng các số tài khoản ngân hàng đứng tên Phạm Thị N, sinh năm 2007, trú tại thôn 4, xã Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh, số tài khoản 1032015130, mở tại ngân hàng Sacombank chuyển tiền 05 lần đến các tài khoản ngân hàng do Cao Phú T đứng tên gồm các số tài khoản số 1022195223 mở tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, số tài khoản 070783772770 mở tại Ngân hàng Thương mại Sài Gòn Thương Tín và số tài khoản 0783772770 mở tại Ngân hàng TMCP Tiền Phong.
Tổng 05 lần giao dịch mua bán các gói dữ liệu cá nhân đối với tài khoản Telegram “小红 Quỳnh Triệu $
” Cao Phú T đã thu lợi bất chính tổng số tiền là 11.386.939 đồng.
Như vậy, Cao Phú T đã thực hiện 27 lần giao dịch mua bán dữ liệu thông tin cá nhân của người khác với 03 tài khoản Telegram: “小刀 Tiểu Đao”, “LiLing Pro KYC (121# Zalo,Facebook 帐户”, “小红 Quỳnh Triệu $
” thu lợi bất chính tổng số tiền là 212.223.904 đồng.
* Tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo:
+ Sau khi sự việc bị phát hiện, Cao Phú T đã đến Cơ quan ANĐT công an tỉnh Thanh Hóa đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo đã giao nộp:
- 01 Case (cây máy tính) đã qua sử dụng gồm: vỏ Case có ghi chữ VSPTECH (không có ốp chắn ở 1 mặt); Mainboard có ghi dòng chữ ASUS PRIME A320M-K; 01 thanh RAM có ghi F4-2400C17S-4GNT và một bộ nguồn
- 02 điện thoại gồm: 01 điện thoại Iphone 14 ProMax, màu trắng; số Imel: 355597829789474; số Imel2: 355597829687090 và 01 điện thoại nhãn hiệu Gemi MI10, màu trắng; số Imel: 865358053352338; số Imel2: 865358053352346(BL 96; 250-251).
- 01 USB nhãn hiệu KingSton chứa các dữ liệu gồm: 51 (năm mươi mốt) file excel chứa dữ liệu thông tin công dân mà Cao Phú T bán cho tài khoản “LiLing Pro KYC”; 09 (Chín) file excel chứa dữ liệu thông tin công dân mà Cao Phú T bán cho tài khoản “小红 Quỳnh Triệu $
”; 42 (bốn mươi hai) file excel chứa dữ liệu thông tin công dân mà Cao Phú T bán cho tài khoản “小刀 Tiểu Đao”.
- 01 USB nhãn hiệu KingStom bên trong chứa 148 file Excel có thông tin dữ liệu cá nhân của người dùng trên các lĩnh vực khác nhau thu giữ trong quá trình kiểm tra Case do Cao Phú T giao nộp.
+ Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Cao Phú T, không phát hiện thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
+ Quá trình điều tra Võ Thị Kim N là người yêu, sống chung với bị cáo. Khi biết T bị khởi tố, Ngân đã tự nguyện nộp lại số tiền 126.586.748 đồng còn lại trong tài khoản để giúp T khắc phục một phần hậu quả gây ra.
Trong quá trình kiểm tra Case máy tính do Cao Phú T giao nộp Cơ quan An ninh điều tra đã thu giữ 03 đoạn hội thoại giữa tài khoản Telegram “Tống Vũ Đăng Kh” (username: @datachatluong02) do Cao Phú T quản lý, liên hệ với các tài khoản: “小刀 Tiểu Đao” (username: @King880880); “LiLing Pro KYC (121# Zalo, Facebook 帐户)” (username: @lingno1); “小红 Quỳnh Triệu $
”. Trong đó, thể hiện rõ nội dung trao đổi, mua bán dữ liệu giữa người mua và T gồm: 51 (năm mươi mốt) file excel chứa dữ liệu thông tin công dân mà Cao Phú T bán cho tài khoản “LiLing Pro KYC”; 09 (Chín) file excel chứa dữ liệu thông tin công dân mà Cao Phú T bán cho tài khoản “小红 Quỳnh Triệu $
”; 42 (bốn mươi hai) file excel chứa dữ liệu thông tin công dân mà Cao Phú T bán cho tài khoản “小刀 Tiểu Đao”; 148 file Excel với thông tin dữ liệu cá nhân của người dùng trên các lĩnh vực khác nhau (BL 213-249).
Đối với các trường hợp cá nhân có thông tin trong file dữ liệu bị Cao Phú T thu thập rồi đem bán, quá trình điều tra xác định: Các trường thông tin có dữ liệu bị rao bán trùng hợp với thông tin thực tế của những người này (có thể trùng một phần thông tin hoặc toàn bộ thông tin theo dữ liệu của T); những người này không có mối quan hệ với Cao Phú T, không cung cấp, không đồng ý cho T sử dụng, rao bán thông tin cá nhân của mình.
Ngày 08/4/2026, Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Thanh Hóa ban hành Công văn số 957/YC-ANĐT yêu cầu Sở Y tế tỉnh Thanh Hóa xác định thông tin cá nhân của người tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế có thuộc danh mục bí mật Nhà nước trên lĩnh vực y tế không. Ngày 18/4/2026, Sở Y tế tỉnh Thanh Hóa ban hành Công văn số 3367/SYT-NVYD trả lời: Dữ liệu thông tin của khách hàng trên lĩnh vực bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế không thuộc Danh mục bí mật Nhà nước.
Ngày 08/4/2026, Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Thanh Hóa ban hành Công văn số 956/YC-ANĐT đề nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa xác định cá nhân, tổ chức quản trị của các tài khoản Telegram của Cao Phú T và những đối tượng đã mua bán dữ liệu thông tin cá nhân với Cao Phú T. Ngày 14/4/2026, Sở Văn hóa, thao và Du Lịch tỉnh Thanh Hóa ban hành công văn trả lời số 2228/ DL-TTBCXB trả lời: Telegram là nền tảng tin nhắn, gọi điện, chia sẻ hình ảnh, âm thanh, video qua mạng Internet (OTT), nền tảng này được vận hành bởi công ty nước ngoài và không có hiện diện pháp lý tại Việt Nam, chưa thông báo thông tin liên hệ tại Việt Nam (Telegram không tiết lộ nơi họ thuê văn phòng công ty hoặc pháp nhân đứng tên thuê văn phòng). Theo chính sách của Telegram các thông tin của người sử dụng (như tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ, email, số điện thoại, tin nhắn, cuộc gọi..) đều được mã hóa và bảo mật. Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã xác nhận không quản lý hoạt động, dữ liệu người dùng của Telegram và không có các biện pháp kỹ thuật để khai thác các thông tin trên nền tảng Telegram tại Việt Nam.
Về xử lý vật chứng đã thu giữ:
+ Các vật chứng sau đây chuyển theo hồ sơ vụ án:
- 01 USB nhãn hiệu KingStom do Cao Phú T giao nộp chứa các dữ liệu gồm: 51 (năm mươi mốt) file excel chứa dữ liệu thông tin công dân mà Cao Phú T bán cho tài khoản “LiLing Pro KYC”; 09 (Chín) file excel chứa dữ liệu thông tin công dân mà Cao Phú T bán cho tài khoản “小红 Quỳnh Triệu $
”; 42 (bốn mươi hai) file excel chứa dữ liệu thông tin công dân mà Cao Phú T bán cho tài khoản “小刀 Tiểu Đao”.
- 01 USB nhãn hiệu KingStom bên trong chứa 148 file Excel có thông tin dữ liệu cá nhân của người dùng trên các lĩnh vực khác nhau thu giữ trong quá trình kiểm tra Case do Cao Phú T giao nộp. (BL 249).
+ VKSND tỉnh Thanh hóa đã ra quyết định chuyển các vật chứng sau đây đến Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa để bảo quản và chờ xử lý theo quy định:
- 01 Case (cây máy tính) đã qua sử dụng gồm: vỏ Case có ghi chữ VSPTECH (không có ốp chắn ở 1 mặt); Mainboard có ghi dòng chữ ASUS PRIME A320M-K; 01 thanh RAM có ghi F4-2400C17S-4GNT và một bộ nguồn được niêm phong trong thùng Catton, trên niêm phong có chữ ký đứng tên Nguyễn Văn Chính, Đinh Tú Mai, Cao Phú T và hình dấu tròn đỏ có nội dung “Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa”.
- 02 điện thoại gồm: 01 điện thoại Iphone 14 ProMax, màu trắng; số Imel: 355597829789474; số Imel2: 355597829687090 và 01 điện thoại nhãn hiệu Gemi MI10, màu trắng; số Imel: 865358053352338; số Imel2: 865358053352346 được niêm phong trong phong bì thư “Điện thoại của Cao Phú T” trên niêm phong có chữ ký đứng tên Nguyễn Văn C, Đinh Tú M Cao Phú T hình dấu tròn đỏ có nội dung “Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa”
- Số tiền 126.586.748 đồng Võ Thị Kim N đã giao nộp cho Cơ quan ANĐT.
Về trách nhiệm dân sự: Các cá nhân bị Cao Phú T sử dụng các thông tin cá nhân để mua bán, trao đổi trên Telegram không biết và không bị thiệt hại gì về tài sản hay bất cứ thiệt hại nào khác và không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại Cáo trạng số 119/VKSTHA-P1 ngày 01/6/2026, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Cao Phú T về tội “Sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 288; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS: xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Tổng hợp với 30 tháng tù cho hưởng án treo (chuyển thành 30 tháng tù giam) của bản án trước, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của 02 bản án.
Đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, mức phạt từ 30 đến 40 triệu đồng đối đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Các cá nhân bị Cao Phú T sử dụng các thông tin cá nhân để mua bán, trao đổi trên Telegram không biết và không bị thiệt hại gì về tài sản hay bất cứ thiệt hại nào khác và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị xử lý vật chứng và truy thu số tiền thu lợi bất chính theo quy định theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Đề nghị HĐXX xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Bị cáo đồng ý với luận tội của đại diện VKS và không tranh luận và không bào chữa. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận tội, xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền để yên tâm cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, sớm có cơ hội trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Thông qua mạng xã hội Telegram, Cao Phú T đã thu thập, lưu giữ, phân loại và mua bán trái phép dữ liệu thông tin cá nhân của nhiều người trong và ngoài nước nhằm mục đích thu lợi bất chính. Từ tháng 12/2024 đến tháng 12/2025 Cao Phú T đã thực hiện 27 lần giao dịch mua bán dữ liệu thông tin cá nhân của người khác với 03 tài khoản Telegram: “小刀 Tiểu Đao”, “LiLing Pro KYC (121# Zalo, Facebook 帐户”, “小红 Quỳnh Triệu $
” thu lợi bất chính tổng số tiền là 212.223.904 đồng.
Hành vi của bị cáo Cao Phú T đã phạm tội “Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 288 của BLHS, có khung hình phạt tù từ 02 đến 07 năm hoặc phạt tiền từ 200.000.000đ đến 1.000.000.000đ.
Hành vi của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm trật tự quản lý thông tin mạng, xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ trên mạng, xâm phạm quyền bí mật đời tư, bí mật cá nhân của nhiều cá nhân; ảnh hưởng xấu đến an toàn thông tin mạng và tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật khác theo quy định của pháp luật về An ninh mạng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do đó cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó là vi phạm pháp luật, là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của án treo theo bản án số 62/2024/HSST, ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ nên xác định “Tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng TNHS theo điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS. Vì bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách của bản án trước nên HĐXX sẽ quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại điều 55; 56 và khoản 5 Điều 65 của BLHS. Thời gian tạm giữ, tạm giam của bị cáo theo bản án số 62/2024/HSST, ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ sẽ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã tự nguyện nộp lại một phần số tiền thu lợi bất chính, bản thân sau khi phạm tội đã đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 288 của Bộ luật Hình sự năm 2015; “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”
Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập và không có tài sản, bản thân đang bị tạm giam và sẽ phải chấp hành hình phạt tù nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Các cá nhân bị Cao Phú T sử dụng các thông tin cá nhân để mua bán, trao đổi trên Telegram không biết và không bị thiệt hại gì về tài sản hay bất cứ thiệt hại nào khác và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- 01 Case (cây máy tính) đã qua sử dụng; 02 điện thoại gồm: 01 điện thoại Iphone 14 ProMax, màu trắng và 01 điện thoại nhãn hiệu Gemi MI10, màu trắng; thu giữ của Cao Phú T là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước. Vật chứng nêu trên có đặc điểm được mô tả theo Biên bản giao nhận vật chứng số 138/2026/TV-THADS ngày 01/6/2026 giữa Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Thanh Hoá và THADS tỉnh Thanh Hoá.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 126.586.748 đồng là tiền thu lợi bất chính của bị cáo do phạm tội mà có. (số tiền do Võ Thị Kim N đã giao nộp cho Cơ quan ANĐT).
- Truy thu để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 85.637.156đ là số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có đối với bị cáo.
Về vấn đề khác liên quan trong vụ án:
Quá trình điều tra Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Thanh Hóa xác định:
- Nhóm đối tượng mua thông tin, dữ liệu cá nhân của Cao Phú T có tên tài khoản Telegram “小刀 Tiểu Đao”, “小红 Quỳnh Triệu $
” đã sử dụng các tài khoản ngân hàng mang tên Phạm Hùng C1 và Đặng Văn C2 (có lai lịch đã nêu trên). Phạm Hùng C khai nhận: trong thời gian từ ngày 04/12/2024 đến 28/01/2025, C1 và C2 bị lừa sang Campuchia lao động. Trước khi sang, C1 và C2 được yêu cầu lập nhiều tài khoản ngân hàng để phục vụ việc bán hàng online. Tuy nhiên, khi sang Campuchia, Cường bị các đối tượng khác khống chế, sử dụng các số tài khoản (trong đó có 02 số tài khoản chuyển tiền cho Trang Sỉ N). Bản thân C1 không có mối quan hệ với Cao Phú T, Trang Sỉ N và các tài khoản Telegram nêu trên. Qua xác minh, Đặng Văn C2 chỉ có hộ khẩu tại xã HT, tỉnh LĐ, trước đây C2 ở cùng mẹ nhưng sau khi mẹ C2 chết, C bỏ đi khỏi địa phương, không có thông tin tạm trú. Hiện không có cơ sở để xác định thông tin.
Đối với Nguyễn Thị Bích L đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 9/2025, không liên lạc về với gia đình. Hiện nay địa phương không xác định được L đi đâu, làm gì. Hiện gia đình đã mất hoàn toàn liên lạc với L nên không thể cung cấp các thông tin khác.
Đối với Phạm Thị N: Khoảng tháng 4/2025, Nh khai có xuất cảnh sang Campuchia, quá trình làm việc tại đây, khi có người nhờ đổi tiền USD (đô-la Mỹ) để lấy tiền Việt Nam thì Nh nhận USD và chuyển khoản tiền VNĐ cho những người này. Nh không nhớ được có chuyển đổi tiền cho Cao Phú T hay không. Giữa N và T không có mối quan hệ gì với nhau.
VKSND tỉnh đã kiến nghị Cơ quan ANĐT công an tỉnh Thanh Hóa tách phần tài liệu có liên quan đến các đối tượng trên để tiếp tục điều tra, xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý.
- Đối với Võ Thị Kim N là người yêu, chung sống với T nhưng N không biết và không tham gia vào hành vi phạm tội của T; toàn bộ số tiền những người mua dữ liệu chuyển đến tài khoản của N đều được T nói rằng cho N để trang trải cuộc sống, N không biết đây là số tiền do phạm tội mà có. Do đó, không có đủ cơ sở để xử lý N .
- Đối với Trang Sỉ N là người đứng tên tài khoản ngân hàng mà T sử dụng để nhận tiền bán dữ liệu cá nhân, sau đó, T liên hệ nhờ N chuyển lại cho T. Qua điều tra, xác định N không biết, không tham gia vào hành vi phạm tội của T nên không có căn cứ để xử lý hành vi của N.
- Đối với bà Nguyễn Thị Kim T - mẹ đẻ của T: Quá trình điều tra xác định bà Tuyền mặc dù đứng tên đăng ký số điện thoại 0379189391 (T sử dụng đăng ký tài khoản Telegram “Datatele 2024”). Tuy nhiên, thực tế bà Tuyền không biết thông tin cá nhân bị T sử dụng đăng ký số điện thoại và bà không trực tiếp sử dụng số điện thoại, không quản lý, sử dụng tài khoản Telegram nêu trên. Bà Tuyền cũng không biết, không tham gia vào hành vi phạm tội của T nên không bị xem xét xử lý.
- TNguyễn Phước L là người đã sử dụng số điện thoại của bản thân lập tài khoản Telegram, sau đó cho T sử dụng. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định Lộc không biết T sử dụng tài khoản Telegram vào mục đích phạm tội nên không có cơ sở để xử lý L.
- Đối với Trần Thị Hương T đứng tên chủ thuê bao 0379189391, quá trình điều tra xác định Trà bị bệnh đao bẩm sinh nên loại trừ trách nhiệm đối với Trà.
- Đối với hành vi của người đã cho Cao Phú T dữ liệu cá nhân để T bán: Ngoài lời khai của Cao Phú T, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định người này. Mặt khác, ứng dụng Telegram không có hiện diện pháp lý tại Việt Nam nên các cơ quan chức năng không có cơ sở xác định cá nhân, tổ chức quản trị tài khoản này. Do đó, không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ.
- Đối với 03 người mua dữ liệu cá nhân của Cao Phú T sử dụng 03 tài khoản Telegram có tên “小刀 Tiểu Đao”, “LiLing Pro KYC”, “小红 Quỳnh Triệu $
”. Tuy nhiên, các đối tượng sử dụng nền tảng mạng xã hội Telegram không có hiện diện pháp lý tại Việt Nam nên các cơ quan chức năng không có cơ sở xác định cá nhân, tổ chức quản trị các tài khoản nêu trên. Mặt khác, các đối tượng sử dụng các tài khoản ngân hàng trung gian, giao dịch qua nhiều hình thức nên không thể xác định các đối tượng quản trị 03 tài khoản trên để làm rõ, xử lý theo quy định.
- Đối với các ví điện tử đã nhận USDT của Cao Phú T sau khi T nhận USDT từ tài khoản Telegram “LiLing Pro KYC”. Do Cao Phú T không còn nhớ thông tin của các giao dịch này, nên không xác định được danh tính của người quản lý, sử dụng các ví điện tử này. Vì vậy, không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ.
Việc Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với những người nêu trên trong vụ án này là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Cao Phú T phạm tội “ Sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 288; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 của BLHS: Xử phạt bị cáo Cao Phú T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với 30 tháng tù cho hưởng án treo theo bản án số 62/2024/HSST, ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/12/2025. (được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam của bản án trước từ ngày 30/11/2023 đến ngày 24/4/2024).
Căn cứ Điều 46; 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước: 01 Case (cây máy tính); 01 điện thoại Iphone 14 ProMax, màu trắng; 01 điện thoại nhãn hiệu Gemi MI10, màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của Cao Phú T có đặc điểm được mô tả theo Biên bản giao nhận vật chứng số 138/2026/TV-THADS ngày 01/6/2026 giữa Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Thanh Hoá và THADS tỉnh Thanh Hoá. Vật chứng đang lưu giữ tại Cơ quan THADS tỉnh Thanh Hoá.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 126.586.748 đồng là tiền thu lợi bất chính của bị cáo do phạm tội mà có. (số tiền do Võ Thị Kim N đã giao nộp cho Cơ quan ANĐT). Số tiền do Công an tỉnh Thanh Hoá chuyển đến và đang được tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1054196.00000 của Cơ quan THADS tỉnh Thanh Hoá mở tại KBNN khu vực XI, theo giấy uỷ nhiệm chi lập ngày 03/6/2026, số chứng từ 1335.
- Truy thu để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với bị cáo Cao Phú T số tiền 85.637.156đ là số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4; 6 và 7 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đối với phần có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND Tối cao; - Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Thanh Hóa; - Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh TH; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hs, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Quân |