vanban.org

Bản án 122/2025/HSST — Hình sự

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 18/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công M 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/02/2025. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp TS - Nguyễn Công M & Ng Thị N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2025/HSST
Ngày: 18-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Bích N

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Lê P

Thư ký phiên tòa: bà Bùi Thị MT, Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 85/2025/TLST-HS, ngày 04 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Công M, Giới tính: nam; Tên gọi khác: B;

Sinh ngày 26/9/1996 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: khu phố A, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

Trình độ học vấn : 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Con ông Nguyễn Công H, sinh năm 1973;

Con bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1973;

Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình;

Tiền án, tiền sự và nhân thân: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/02/2025, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực P - Công an tỉnh B.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị N, Giới tính: nữ; Tên gọi khác: N1;

Sinh ngày 22/6/1993 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: khu phố C, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Dân tộc: Kinh;Quốc tịch: Việt Nam;Tôn giáo: không;

Trình độ học vấn: 5/12;Nghề nghiệp: không;

Con ông Nguyễn L1, sinh năm 1968 (đã chết);

Con bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1973;

Anh chị em ruột: có 04 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình;

Chồng Mai Viết Nhật Q, sinh năm 1992;

Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2013;

Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Ngày 24/02/2021, TAND huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 20. Chấp hành xong ngày 24/01/2022.

Ngày 27/12/2022, TAND thành phố Phan Thiết xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 243.

Ngày 15/7/2024, TAND thành phố Phan Thiết xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với hình phạt 02 năm tù của Bản án số 243 ngày 27/12/2022 của TAND thành phố Phan Thiết, buộc chấp hành 09 năm tù, tại Bản án số 143.

Bị cáo N đang chấp hành án tại trại giam T3, hiện đang được trích xuất về Phân trại tạm giam Khu vực P - Công an tỉnh B để phục vụ công tác điều tra, truy tố và xét xử.

Các Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: ông Huỳnh T, sinh năm: 1985, (Vắng mặt)

Địa chỉ: khu phố C, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: vào khoảng 01 giờ ngày 05/02/2020, Nguyễn Công M điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream (không rõ biển số) chở Phan Văn T1 (sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã H, huyện H) chạy từ nhà trọ tại hẻm S, đường N, phường P, thành phố P ra ngoài có việc thì phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Honda Lead biển số 86C1-594.58 của ông Huỳnh T (sinh năm 1985, trú tại khu phố C, phường X, thành phố P) đang dựng ngoài đường trước số nhà A, đường N, phường P, thành phố P, không có người trông coi nên M nói với T1: “Anh T1 có chiếc xe để từ chiều đến giờ không có ai dắt vào, lát nữa 02 anh em mình về lấy chiếc xe này”, T1 đồng ý và lấy điện thoại của T1 gọi điện cho Nguyễn Thị N và nói: “Kêu thằng K đi ra dắt chiếc xe này vào”. Nghe điện thoại xong, N nói với Huỳnh Minh K (sinh năm 1994, trú tại thôn T, xã H, huyện H): “Đi ra ngã ba đường thằng T1 nói gì kìa”. Sau đó, N và K cùng đi bộ ra ngã ba hẻm N thì thấy T1 và M cũng đang ở đây, N thấy chiếc xe hiệu Honda Lead biển số 86C1-594.58 đang ở ngoài đường không có người trông coi nên N hiểu là sẽ lấy trộm chiếc xe này. Lúc này, T1 nói K: “Mày qua dắt chiếc xe vào phòng trọ giùm tao”, K hỏi T1: “Xe của ai mà dắt”, T1 trả lời: “Mày cứ dắt đi”. K tiếp tục nói với T1: “Ở trên cây bàn có 02 camera sao dám dắt”, T1 nói: “Mày đeo khẩu trang vào và mày cố gắng giúp tao lần này”, K đồng ý và hỏi T1: “Sao không kêu thằng M dắt”, M trả lời: “Tao không dám dắt, mày cứ dắt về rồi tao phụ đẩy vào phòng”. Khi nghe T1, K và M nói chuyện về việc dắt trộm xe thì N nói: “Có dắt thì dắt lẹ đi, trời gần sáng rồi”, rồi N đi bộ qua quán bà L2 mua đồ. Lúc này, T1 đi bộ vào phòng trọ trước, M đi sau, còn K đi đến nơi để chiếc xe mô tô biển số 86C1- 594.58, K dắt đi vào phòng trọ. Khi đến phòng trọ, T1 đi vào phòng số 4 (là phòng T1, M, K và N đang ở) lấy cây kềm ra cắt khóa phòng trọ số 2 (là phòng không có người ở) để K và M đẩy xe mô tô vừa trộm được vào cất giấu. Sau đó K, T1, M và N vào phòng trọ số 4 để ngủ.

Đến khoảng 6 giờ ngày 05/02/2020, anh Huỳnh T phát hiện xe mô tô nêu trên bị kẻ gian lấy mất nên đã đến Công an phường P trình báo, truy xét qua Camera do ông T cung cấp, Cơ quan Công an đã đến phòng trọ của N, M, K và T1 làm việc và đưa các đối tượng và tang vật về Công an phường làm việc

Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô hiệu Honda Lead biển số 86C1-594.58, số máy JF45E0826234, số khung 4511FY790110 (không kiểm tra chi tiết bên trong máy, do Huỳnh Minh K giao nộp).

Tại Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HDĐG ngày 12/03/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Lead biển số 86C1-594.58, số máy JF45E0826234, số khung 4511FY790110. Giá trị tài sản: 26.400.000 đồng.

Xử lý vật chứng và dân sự: ngày 27/01/2021 Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã xét xử hành vi của Phan Văn T1, Huỳnh Minh K và đã xử lý vật chứng dân sự tại Bản án số 19.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 73/CT/VKSPT-HS ngày: 04/4/2025, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đề nghị HĐXX Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Công M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Công M từ 09 đến 12 tháng tù.

2. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị N từ 12 đến 18 tháng tù và tổng hợp hình phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bản án số 243, ngày 27/12/2022, của TAND thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận và 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 143 ngày 15/7/2024 của TAND thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận.

Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2023 nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 31/8/2022 đến ngày 05/9/2022.

Xử lý vật chứng và dân sự, xử lý theo quy định pháp luật.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận, không trình bày lời nói sau cùng.

Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về căn cứ xác định hành vi: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi của các bị cáo được nêu trong Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết là đúng thực tế. Nhận thấy lời khai của các bị cáo là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: vào khoảng 01 giờ ngày 05/02/2020, tại khu vực trước số nhà A đường N, phường P, thành phố P. Phan Văn T1, Huỳnh Minh K, Nguyễn Công M và Nguyễn Thị N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Lead biển số 86C1-594.58, trị giá 26.400.000 đồng của anh Huỳnh T thì bị phát hiện, thu giữ.

Các Bị cáo là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây nguy hiểm cho xã hội và mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử lý nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo Nguyễn Công M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Nguyễn Thị N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng nhân thân xấu, liên tục phạm tội, hiện đang chấp hành án của các bản án mà bị cáo vi phạm trước đó.

- Về tình tiết giảm nhẹ:

Bị cáo Nguyễn Công M trong quá trình điều tra không thành khẩn nhưng tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo trộm bị hại đã nhận lại không yêu cầu bồi thường thêm và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Thị N trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo trộm bị hại đã nhận lại không yêu cầu bồi thường thêm và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở cân nhắc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo xét thấy: Hành vi của các bị cáo gây nguy hại cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương, nên cần xử lý bằng một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của của các bị cáo.

. Về ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hiệu Honda Lead biển số 86C1-594.58, số máy JF45E0826234, số khung 4511FY790110 đã được trả lại cho bị hại ông Huỳnh T, ngày 27/01/2021 Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã xét xử hành vi của Phan Văn T1, Huỳnh Minh K và đã xử lý vật chứng, dân sự tại Bản án số 19.

. Về trách nhiệm dân sự: bị hại anh Huỳnh T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên HĐXX không xét.

Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công M 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/02/2025.

2. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N 01 (một) năm tù.

Cộng với 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 243, ngày 27/12/2022, của TAND thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận và 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 143 ngày 15/7/2024 của TAND thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành cho cả ba bản án là 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2023 nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 31/8/2022 đến ngày 05/9/2022.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Các Bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Thị N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 18/4/2025. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ