vanban.org

Bản án 122/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L đối với anh Ngô Xuân H về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Ngô Xuân H. Về con chung: Giao cháu Ngô Xuân A, sinh ngày 06/12/2022 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn và nuôi con giữa chị Phạm Thị L và anh Ngô Xuân H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L đối với anh Ngô Xuân H về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16-6-2025
V/v: “TrAh chấp về ly hôn và nuôi con”

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Châu Thị Kim Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Hương;

2. Ông Trần Phước Ân.

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Ngọc Trung, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Hồ Minh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 35/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 về “TrAh chấp về ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Phạm Thị L, sinh năm 1982. Vắng mặt.

- Bị đơn: anh Ngô Xuân H, sinh năm 1981. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: thôn T, xã Quế L, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/02/2025, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị L và anh H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quế L, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 29 ngày 29/7/2002. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh H bạo lực gia đình, thường xuyên đánh đập chị. Từ tháng 9 năm 2024 đến nay, chị L và anh H không còn sống chung với nhau. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu giải quyết cho ly hôn với anh H.

Về con chung: có 04 con chung tên Ngô Xuân N, sinh ngày 07/11/2002; Ngô Thị Thanh Nh, sinh ngày 29/5/2004; Ngô Thị Thanh H, sinh ngày 10/10/2006 và Ngô Xuân A, sinh ngày 06/12/2022. Hiện nay, các cháu N, Nh và H đã trưởng thành nên chị không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi cháu A và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Đối với bị đơn anh Ngô Xuân H, trong quá trình giải quyết vụ án anh H không hợp tác, cố tình không đến Tòa án làm việc, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Vì vậy, anh H không có ý kiến về nội dung vụ án và vắng mặt tại phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và nuôi con chung của chị Phạm Thị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Phạm Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn - anh Ngô Xuân H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa.

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phạm Thị L có quan hệ hôn nhân hợp pháp với anh Ngô Xuân H, địa chỉ: thôn T, xã Quế L, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Nay, chị L khởi kiện xin ly hôn với anh H và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Ngô Xuân A nên qua hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: chị L và anh H tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Quế L, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 29 ngày 29/7/2002 nên đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận. Theo chị L, trong quá trình chung sống vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do H bạo lực gia đình, thường xuyên đánh đập chị và từ tháng 9 năm 2024 đến nay, chị L và anh H không còn sống chung với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị L cương quyết xin ly hôn, còn anh H không tham gia các phiên hòa giải, không tham dự phiên tòa và không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị L, anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: chị L và anh H có 04 con chung tên Ngô Xuân N, sinh ngày 07/11/2002; Ngô Thị Thanh Nh, sinh ngày 29/5/2004; Ngô Thị Thanh H, sinh ngày 10/10/2006 và Ngô Xuân A, sinh ngày 06/12/2022. Hiện nay, các cháu N, Nh và H đã thành niên, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân, chị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với cháu Ngô Xuân A, khi ly hôn chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu A, anh H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án thể hiện sự không quan tâm đến gia đình, con cái. Hơn nữa, cháu A còn nhỏ và đang sống cùng chị L, vì vậy để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về thể chất và tâm, sinh lý của cháu A, cần giao cháu A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở phù hợp với quy định tại Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 84 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: chị Phạm Thị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L đối với anh Ngô Xuân H về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Ngô Xuân H.

2. Về con chung: Giao cháu Ngô Xuân A, sinh ngày 06/12/2022 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Phạm Thị L phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà chị L đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010658 ngày 25/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ