vanban.org

Bản án 122/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 04/11/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "H và ĐP - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/HSST
Ngày 04 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƢỚ ỘNG H

HỘI HỦ NGHĨA VIỆ NAM

N NH N N H NH HỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

-

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn

+ Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Ngọc Chín và ông Nguyễn Ngọc Hà.

- ư ký ê òa: Ông Nguyễn Thế Vinh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đinh Diễm Kiều Trang, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30 tháng 10 năm 2024 và ngày 04 tháng 11 năm 2024, t i tr s Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, t s th m công khai v án hình sự th lý số: 117/2024/TLST-HS ngày 10/10/2024; theo Quyết định đưa v án ra xét x số: 130/2024/QĐXX-HS ngày 17/10/2024; đối với:

* Các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Trọng Huấn, sinh năm 1992; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; N i cư trú: khu 2, xã Chu Hóa, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Trọng Lượng, sinh năm 1949 và bà: Nguyễn Thị Hán, sinh năm 1952; Vợ: Trần Thị Bảo Yến, sinh năm 1994 và có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án số: 47/2010/HS-ST ngày 29/10/2010, của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ x ph t 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; đã thi hành xong hình ph t chính (ra tr i ngày 29/4/2011). Qua kiểm tra danh sách hồ s đang thi hành và hồ s lưu trữ t i kho bảo quản hồ s của Chi c c thi hành án dân sự huyện Phù Ninh không có hồ s của Huấn nên áp d ng nguyên tắc có lợi cho bị can và ác định bị can đã được xóa án tích. Bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 20/5/2024; Hiện đang t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Văn hƣơng, sinh năm 1980; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; N i đăng ký hộ kh u thường trú: tổ 25, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; Chỗ hiện nay: P438, CT 8A, khu đô thị Đ i Thành, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn Lâu (đã chết) và bà: Trần Thị Nhung, sinh năm 1946; Vợ: Trư ng Thị Nga, sinh năm 1992 và có 01 con, sinh năm 2012. Tiền án: T i Bản án số: 181/2021/HS-ST ngày 03/6/2021, của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội x ph t 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã thi hành xong hình ph t chính (ra tr i ngày 29/5/2022); Tiền sự: Không; Nhân thân: T i Bản án số: 409/2009/HS-ST ngày 16/7/2009, của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội x ph t 24 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị can chấp hành xong hình ph t tù và ra tr i ngày 20/5/2009 (về án phí hình sự bị can đóng ong ngày 16/7/2009); Bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 24/5/2024; Hiện đang bị t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

* N ười có quyền lợ ,

ĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn Anh, sinh năm 1987,

Là chủ c a hàng điện tho i Anh Mobile, có địa chỉ t i: Khu 3B, xã Chu Hoá, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 45 phút ngày 20/5/2024, t i khu 2, xã Chu Hóa, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Phòng cảnh sát điều tra tội ph m về ma túy, Công an tỉnh Phú Thọ phát hiện và kiểm tra một người đàn ông có biểu hiện vi ph m pháp luật. Người này tự khai họ tên là Nguyễn Trọng Huấn, sinh năm 1992, trú t i: Khu 2, xã Chu Hóa, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Quá trình kiểm tra, Huấn tự giác lấy từ túi quần bên phải đang mặc giao nộp 23 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm bên trong có chứa chất rắn d ng tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm bên trong có chứa 01 viên d ng nén hình tròn màu hồng. Huấn tự khai nhận đây là các túi chứa ma túy đá và ma túy hồng phiến của Huấn, Huấn tàng trữ với m c đích để s d ng và bán. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người ph m tội quả tang và niêm phong thu giữ số ma túy nêu trên. Ngoài ra, còn t m giữ của Huấn: 01 điện tho i di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu hồng đã cũ, số IMEI 1: 863632032213874 trong máy lắp 01 thẻ sim số thuê bao 0389.512.886 và tiền Việt Nam 500.000 đồng.

C quan điều tra tiến hành khám xét kh n cấp n i của Nguyễn Trọng Huấn t i khu 2, xã Chu Hóa, thành phố Việt Trì. Quá trình khám xét, thu giữ t i nhà của Huấn: 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Trọng Huấn, 01 bình cóng thủy tinh là d ng c để s d ng ma tuý thu giữ t i mặt bàn trong phòng ngủ của Huấn.

C quan điều tra đã kiểm tra xét nghiệm ma túy bằng que th nước tiểu đối với Nguyễn Trọng Huấn. Kết quả Huấn dư ng tính với chất ma túy.

Cùng ngày 20/5/2024, c quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Nguyễn Trọng Huấn. T i Kết luận giám định số 722/KL-KTHS ngày 23/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình¸sự, Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

"- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 23 túi nilon gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 2,783 gam

- 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng chứa bên trong 01 túi nilon gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,095 gam

* Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ”

Hoàn trả l i 2,083 gam chất rắn d ng tinh thể màu trắng và 0,069gam chất bột c c màu hồng là mẫu vật còn l i sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói g i đến giám định.

Về nguồn gốc số ma tuý trên, Huấn khai nhận mua của Nguyễn Văn Thư ng, sinh năm 1980, trú t i: tổ 25, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; n i hiện t i: Phòng 438, CT 8A, khu đô thị Đ i Thành, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội vào ngày 18/5/2024 với giá 7.780.000 đồng.

Ngày 24/5/2024, C quan cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an tỉnh Phú Thọ đã thi hành lệnh khám xét kh n cấp n i làm việc của Nguyễn Văn Thư ng, t i 64 Hoàng Đ o Thành, phường Kim Giang, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Quá trình khám t đã thu giữ: 10 túi nilon màu trắng có khuy bấm bên trong đều bám dính chất tinh thể màu trắng, 04 cóng thủy tinh là d ng c s d ng ma tuý bên trong đều bám dính chất tinh thể màu trắng, đen đã qua s d ng, đã được c quan CSĐT cho vào từng bì giấy niêm phong theo quy định đánh số 01, 02; 01 cân điện t màu trắng đã qua s d ng. Số ma tuý này Thư ng khai gom vào để bán cho những người nghiện mua số lượng ít. Đồng thời, c quan CSĐT đã thi hành lệnh giữ người trong trường hợp kh n cấp đối với Nguyễn Văn Thư ng. Quá trình giữ người còn thu giữ của Thư ng: 01 thẻ điều trị Methadone, 01 điện tho i di động đã qua s d ng vỡ màn hình vỏ màu trắng nhãn hiệu Iphone số Imei 355770076762201 kèm 01 sim số 0332.900.662.

C quan điều tra đã tiến hành kiểm tra xét nghiệm ma túy bằng que th nước tiểu đối với Nguyễn Văn Thư ng. Kết quả Thư ng dư ng tính với chất ma túy.

Cùng ngày, c quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định chất bám dính trong 10 túi nilon màu trắng và trong 04 cóng thủy tinh thu của Nguyễn Văn Thư ng. T i Kết luận giám định số 739/KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“- Chất tinh thể màu trắng bám dính trong 10 túi nilon màu trắng, có khuy bấm, trong bì niêm phong số 01 gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,041 gam, loại: Methamphetamine.

- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng, đen bám dính trong 04 cóng thủy tinh trong bì niêm phong số 02 gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng là: 0,073 gam, loại Methamphetamine.

* Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ”

Hoàn trả l i 0,025 gam chất rắn d ng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn l i trong bì niêm phong số 01; 0,032 gam chất rắn d ng tinh thể màu trắng, đen là mẫu vật còn l i trong bì niêm phong số 02 cùng toàn bộ bao gói g i đến giám định.

T i c quan điều tra, Thư ng đã thừa nhận việc bán ma túy cho Huấn ngày 18/5/2024 phù hợp với lời khai của Huấn.

Ngày 27/5/2024, C quan CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ đã chuyển toàn bộ hồ s v án đến c quan CSĐT Công an thành phố Việt Trì giải quyết theo th m quyền.

T i C quan điều tra, Nguyễn Trọng Huấn và Nguyễn Văn Thư ng khai nhận toàn bộ diễn biến nội dung v án như sau:

Khoảng một ngày giữa tháng 01/2024, Nguyễn Trọng Huấn đang khu vực bến xe khách Mỹ Đình bắt e khách đi về nhà thì gặp một người ph nữ khoảng 40 tuổi chỉ biết tên là Hư ng, qua nói chuyện Huấn biết Hư ng có ma túy đá để bán nên Huấn đã hỏi và mua được của người này 01 túi ma túy đá được đúc trong túi nilon màu trắng có mép dán với giá 2.000.000 đồng. Sau đó, Huấn cất dấu túi ma túy vừa mua được trong người rồi bắt e khách đi về nhà còn người ph nữ đi đâu Huấn không biết. Khi về đến nhà, Huấn m túi ma túy mua được chia thành nhiều túi nhỏ để bán cho nhiều người nghiện không quen biết trong đó Huấn chỉ nhớ đã hai lần bán ma túy cho Trần Doãn Tuấn, sinh năm 1994, trú t i: đội 4, xã Th y Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. C quan điều tra đã triệu tập Tuấn đến làm việc. T i c quan điều tra Tuấn và Huấn cũng đã thừa nhận việc mua bán ma tuý c thể như sau:

Lần 1: Khoảng 22 giờ 00 ngày 29/01/2024, Huấn đang nhà thì Tuấn gọi điện từ số 0942.420.289 gọi đến số điện tho i của Huấn 0789.076.001 hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy đá. Huấn đồng ý và hẹn Tuấn bao giờ có ma túy Huấn sẽ gọi l i. Khoảng một tiếng sau, Huấn gọi điện l i cho Tuấn nói đã có ma túy và hẹn Tuấn đến nhà để giao dịch trao đổi mua bán ma túy, Tuấn đồng ý. Sau đó t i phòng ngủ của Huấn, Huấn bán cho Tuấn 01 túi ma túy đá được đúc trong túi nilon màu trắng có khuy bấm với giá 500.000 đồng, số ma túy này Tuấn đã s d ng hết cho bản thân.

Lần 2: Khoảng 16 giờ 00 ngày 04/02/2024, cũng với cách thức nêu trên t i phòng ngủ của Huấn, Huấn đã bán cho Tuấn 01 túi ma túy được đúc trong túi nilon màu trắng có khuy bấm với giá 500.000 đồng. Tuấn cầm ma túy vừa mua được đi về và s d ng hết cho bản thân.

Ngoài hành vi mua ma tuý của người ph nữ tên Hư ng, Huấn còn có hành vi mua ma tuý của Nguyễn Văn Thư ng 02 lần, c thể như sau:

Lần 1: Vào khoảng 22 giờ 00 ngày 05/5/2024, Huấn dùng điện tho i số 0789.076.001 gọi vào số điện tho i 0332.900.662 của Thư ng hỏi mua 05 gam ma túy đá và hẹn Thư ng lên nhà Huấn để giao dịch mua bán ma túy. Thư ng đồng ý và báo giá 05 gam ma túy là 4.800.000 đồng, Thư ng bảo Huấn chuyển tiền vào tài khoản của mình. Huấn dùng tài khoản ngân hàng Vietcombank số 0001044307822 chuyển đến tài khoản ngân hàng MB bank số 0550182260380 của Thư ng số tiền 4.800.000 đồng. Chuyển khoản xong, Huấn hẹn Thư ng mang ma tuý lên giao cho Huấn và hẹn đến khu vực cầu Văn Lang, thành phố Việt Trì thì gọi điện, Huấn sẽ báo c thể địa điểm Huấn nhận hàng. Sau khi nhận tiền từ Huấn chuyển thì Thư ng đã đến quán nước gần chỗ Thư ng làm việc t i 64 Hoàng Đ o Thành, phố Kim Giang, thành phố Hà Nội gặp một người đàn ông tên S n (người này đã nhiều lần bán ma túy cho Thư ng), Thư ng hỏi và mua đư c của S n 05 gam ma túy đá đúc trong túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm với giá 3.000.000 đồng. Mua được ma túy Thư ng mượn xe máy của một người công nhân t i n i Thư ng làm việc (Thư ng không nhớ rõ người đó là ai) và cầm túi ma túy đá vừa mua được đi lên thành phố Việt Trì để giao cho Huấn. Khi đi đến khu vực cầu Văn Lang, thành phố Việt Trì, Thư ng gọi điện cho Huấn, Huấn bảo Thư ng đi đến cổng trường trung học c s (THCS) H c Trì chờ Huấn. Khoảng 02 giờ sáng ngày 06/5/2024, t i khu vực cổng trường THCS H c Trì, Thư ng đưa cho Huấn 01 túi ma túy đá được đúc trong túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm. Giao hàng ong thì Thư ng đi về còn Huấn cầm số ma túy trên đi về nhà. Số ma tuý mua được Huấn vừa bán cho những người nghiện không quen biết vừa s d ng dần hết cho bản thân.

Lần 2: Khoảng 12 giờ 00 ngày 18/5/2024, Huấn gọi điện cho Thư ng hỏi mua 10 gam ma túy đá, Thư ng đồng ý và báo giá 8.000.000 đồng nhưng nếu Huấn xuống Hà Nội trực tiếp lấy ma túy thì Thư ng sẽ giảm cho 220.000 đồng, Huấn đồng ý. Thư ng bảo Huấn chuyển khoản trước vào tài khoản của Thư ng. Huấn dùng tài khoản ngân hàng Techcombank số 3882311992 chuyển đến tài khoản ngân hàng MB bank số 0550182260380 của Thư ng số tiền 7.780.000 đồng. Sau đó, Thư ng hẹn gặp Huấn đường Ph m Hùng đối diện cổng bến xe Mỹ Đình, thành phố Hà Nội để giao nhận ma túy. Nhận được tiền Thư ng đi đến quán nước t i khu vực Thư ng làm việc gặp S n, Thư ng hỏi và mua được của S n 10 gam ma túy đá được đúc trong túi nilon màu trắng có khuy bấm với giá 5.800.000 đồng, S n cho thêm Thư ng 10 viên ma túy hồng phiến đựng trong túi nilon màu trắng có khuy bấm. Sau khi chuyển khoản ong cho Thư ng, Huấn đã đi ta i uống n i hẹn. Còn Thư ng mượn xe của một người công nhân t i n i làm việc đi đến đo n đường Ph m Hùng đối diện bến xe Mỹ Đình đợi Huấn. T i n i hẹn khi gặp nhau, Thư ng đưa cho Huấn 02 túi nilon màu trắng có khuy bấm có đặc điểm nêu trên. Huấn cầm túi ma túy đi về còn Thư ng quay l i n i làm việc. Khi về đến nhà, Huấn tách một phần ma túy vừa mua được chia thành 24 túi ma túy đá nhỏ đều được đúc trong túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm, phần ma túy còn l i Huấn tách lấy một phần s d ng cho bản thân bằng hình thức hút, phần còn l i Huấn gói l i như cũ để s d ng dần và đã s d ng hết số ma túy này. 10 viên ma túy hồng phiến Thư ng cho Huấn, Huấn đã s d ng hết 09 viên còn l i 01 viên Huấn cho vào trong túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm cất giấu cùng 24 túi ma túy đá nhỏ.

Như vậy, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ s v án: Biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản đối chất, sao kê tài khoản ngân hàng, nội dung nhắn tin zalo ác định Thư ng bán 02 lần ma tuý cho Huấn với tổng khối lượng 15 gam nên có căn cứ ác định Thư ng phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng ma tuý đã bán 15 gam cho Huấn và khối lượng ma tuý bị thu giữ khi thi hành lệnh giữ trong trường hợp kh n cấp.

T i c quan điều tra, Huấn còn tự khai nhận: Khoảng h n 10 giờ 00 ngày 20/5/2024, Đinh Trung Hưng, sinh năm 1991, trú t i: khu 1, ã Thanh Đình, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ gọi điện qua Zalo cho Huấn hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, Huấn đồng ý và hẹn gặp Hưng đến khu vực cầu Gianh thuộc khu 2, xã Chu Hóa, thành phố Việt Trì. T i n i hẹn, Huấn bán cho Hưng 01 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng, sau đó Huấn đi về nhà còn Hưng cầm túi ma túy mua được của Huấn đi về và s d ng hết cho bản thân. Đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày 20/5/2024, Huấn ra đứng ven đường dân sinh thuộc khu 2, xã Chu Hóa, thành phố Việt Trì để xem có ai hỏi mua thì sẽ bán thì bị lực lượng Công an tỉnh Phú Thọ phối hợp với lực lượng Công an xã Chu Hóa phát hiện kiểm tra, lập biên bản bắt người ph m tội quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Về vật chứng, tài sản bị thu giữ, quá trình điều tra, C quan điều tra đã làm rõ: 01 bì niêm phong số 739/KL-KTHS dán kín trong túi niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả bên trong có chứa 0,025 gam chất tinh thể màu trắng là mẫu vật còn l i trong bì niêm phong số 01; 0,032 gam chất rắn d ng tinh thể màu trắng, đen là mẫu vật còn l i trong bì niêm phong số 02 còn l i sau giám định (04 cóng thuỷ tinh thu giữ của Thư ng được để trong bì niêm phong số 02); 01 thẻ điều trị Methadone mang tên Nguyễn Văn Thư ng; 01 cân điện t màu trắng đã qua s d ng Thư ng dùng để cân chia nhỏ ma tuý; 01 điện tho i di động đã qua s d ng vỡ màn hình màu trắng nhãn hiệu Iphone số IMEI 355770076762201 kèm 01 sim số 0332.900.662; 01 bì niêm phong số 722/KL-KTHS dán kín trong túi niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả bên trong có chứa 2,083 gam chất rắn d ng tinh thể màu trắng và 0,069 gam chất bột c c màu hồng còn l i sau giám định; 01 chiếc điện tho i di động OPPO vỏ màu hồng số IMEI: 863632032213874 đây là chiếc điện tho i Huấn mượn của anh Nguyễn Văn Anh, sinh năm 1987, trú t i: khu 3B, xã Chu Hoá, thành phố Việt Trì là chủ c a hàng điện tho i Anh mobile địa chỉ t i: khu 3B, xã Chu Hoá, thành phố Việt Trì. Việc Huấn mượn điện tho i của anh Anh dùng vào m c đích vi ph m pháp luật thì anh Anh hoàn toàn không biết, Còn sim số 0389.512.886 là Huấn mua sim rác để s d ng vào m c đích liên l c hàng ngày không dùng để liên l c mua bán ma tuý; 01 cóng thuỷ tinh; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Trọng Huấn.

Về điều kiện kinh tế của các bị can: Quá trình điều tra ác định: Ngoài đồ dùng sinh ho t hàng ngày và tài sản bị thu giữ khi bị bắt quả tang, bị can Huấn và Thư ng không có tài sản nào khác có giá trị.

Tại Cáo trạng số: 121/CT-VKS-VT ngày 10 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Trọng Huấn về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, quy định t i Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Văn Thư ng về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, quy định t i Điểm b, i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi luận tội đề nghị Hội đồng xét x :

* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Huấn và bị cáo Nguyễn Văn Thư ng ph m tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

* Căn cứ vào:

- Điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; đối với bị cáo Nguyễn Trọng Huấn;

- Điểm b, i khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; đối với bị cáo Nguyễn Văn Thư ng;

- Điểm a,b,c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a,b,c khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH.14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường v Quốc Hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- X ph t bị cáo Nguyễn Trọng Huấn từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng. Thời h n tù tính từ ngày 20/5/2024.

- X ph t bị cáo Nguyễn Văn hƣơng từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm. Thời h n tù tính từ ngày 24/5/2024.

* Về hình ph t bổ sung: Miễn áp d ng hình ph t bổ sung cho các bị cáo.

* Về vật chứng:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện tho i di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu trắng đã qua s d ng, màn hình bị vỡ, số IMEI: 355770076762201 thu giữ của bị cáo Thư ng và số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), thu giữ của bị cáo Huấn và 01 cân điện t màu trắng, đã qua s d ng thu giữ của bị cáo Thư ng.

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn Thư ng phải có trách nhiệm nộp l i số tiền 12.580.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng), và buộc bị cáo Nguyễn Trọng Huấn phải có trách nhiệm nộp l i số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), để sung quỹ Nhà nước.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 722/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Phú Thọ, hoàn trả 2.083gam chất rắn d ng tinh thể màu trắng và 0,069gam chất bột c c màu hồng cùng toàn bộ bao gói g i đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Trọng Huấn; 01 bì niêm phong số 739/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Phú Thọ, hoàn trả 0,025gam chất rắn d ng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn l i trong bì niêm phong số 01, 02 cùng toàn bộ bao gói g i đến giám định thu giữ của Nguyễn Văn Thư ng; 04 cóng thủy tinh thu giữ của bị cáo Thư ng (04 cóng thủy tinh này bên trong bì niêm phong số 739/KL-KTHS); 01 cóng thủy tinh thu giữ của bị cáo Huấn; 01 Sim số 0389.512.886 lắp bên trong chiếc điện tho i di động OPPO thu giữ của bị cáo Huấn; 01 Sim số 0332.900.662 lắp bên trong chiếc điện tho i di động IPHONE thu giữ của bị cáo Thư ng và 01 thẻ điều trị Methadone (M) mang tên Nguyễn Văn Thư ng.

- Trả l i cho bị cáo Huấn 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Trọng Huấn. Trả l i cho anh Nguyễn Văn Anh 01 điện tho i di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu hồng, đã qua s d ng, số IMEI: 863632032213874.

* Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và t i phiên tòa những người tham gia tố t ng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng t

em t, giảm nhẹ hình ph t.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố t ng của C quan điều tra công an thành phố Việt Trì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu n i về hành vi, quyết định của c quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của C quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đó thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

- Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với các các bị cáo: Quá trình điều tra và t i phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Trọng Huấn và Nguyễn Văn Thư ng khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình như sau: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 20/5/2024, t i khu 2, xã Chu Hoá, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Trọng Huấn có hành vi tàng trữ khối lượng 2,783gam ma tuý tinh thể màu trắng lo i “Methamphetamine” và 0,095gam ma túy viên nén hình tròn màu hồng lo i “Methamphetamine” m c đích để bán kiếm lời, thì bị tổ công tác phòng CSĐT tội ph m về ma tuý Công an tỉnh Phú Thọ phát hiện, bắt quả tang. T i c quan điều tra, Nguyễn Trọng Huấn khai nhận ngày 29/01/2024 và 04/02/2024, Huấn đã 02 lần bán ma tuý cho Trần Doãn Tuấn, mỗi lần với giá 500.000 đồng, số ma tuý mua được Tuấn đã s d ng hết và ngày 20/5/2024, t i khu vực cầu Gianh thuộc khu 2, xã Chu Hoá, Huấn đã bán cho Đinh Trung Hưng 01 gói ma tuý với giá 500.000 đồng số ma tuý mua được Hưng đã s d ng hết. Quá trình điều tra làm rõ, ngày 05/5/2024, t i khu vực trường THCS H c Trì, thành phố Việt Trì Huấn có mua của Nguyễn Văn Thư ng 05gam ma tuý đá với giá 4.800.000 đồng và ngày 18/5/2024, t i khu vực đường Ph m Hùng đối diện bến xe Mỹ Đình, thành phố Hà Nội Huấn tiếp t c mua của Thư ng 10gam ma tuý đá với giá 7.780.000 đồng. Ngoài ra, Thư ng còn có hành vi tàng trữ khối lượng 0,041gam lo i ma tuý “Methamphetamine” bám dính trong 10 túi nilon màu trắng và 0,073gam lo i ma tuý “Methamphetamine” bám dính trên 04 cóng thuỷ tinh n i làm việc của Thư ng t i 64 Hoàng Đ o Thành, phường Kim Giang, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, số ma tuý này Thư ng gom l i nhằm m c đích để bán. Như vậy, Nguyễn Trọng Huấn phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng 2,878 gam ma tuý “Methamphetamine” (bao gồm 2,783gam và 0,095gam) thu giữ khi bị bắt quả tang; Còn Nguyễn Văn Thư ng phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng 0,114 gam ma tuý “Methamphetamine” (bao gồm 0,041gam và 0,073 gam) và khối lượng 15 gam ma tuý mà Thư ng bán cho Huấn 02 lần vào ngày 05/5/2024 và 18/5/2024.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với thời gian địa điểm n i ảy ra v án và phù hợp với vật chứng v án đã được giám định, cùng các tài liệu có trong hồ s v án. Như vậy, có đủ c s và căn cứ để kết luận các bị cáo Nguyễn Trọng Huấn và Nguyễn Văn Thư ng đã ph m tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tội ph m và hình ph t mà bị cáo Thư ng phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định t i Điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Còn bị cáo Huấn phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định t i Điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Như nội dung cáo tr ng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

b. Phạm tội 02 lần trở lên;

…

i. Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam".

Về nguyên nhân, động c , m c đích dẫn đến hành vi ph m tội: Do bị cáo Huấn và bị cáo Thư ng là người s d ng chất ma túy nên đã mua, bán trái phép ma túy để ph c v nhu cầu s d ng ma túy của bản thân và để kiếm lời.

Đánh giá tính chất v án là rất nghiêm trọng, hành vi ph m tội của các bị cáo đã xâm ph m đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, thể hiện sự coi thường bất chấp pháp luật, gây bức úc trong dư luận quần chúng nhân dân và ảnh hư ng xấu đến tình hình an ninh trật tự t i địa phư ng. Vì vậy, cần phải x lý các bị cáo thật nghiêm trước pháp luật mới có tác d ng giáo d c, cải t o các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình ph t, Hội đồng xét x cần t đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét x các bị cáo thành kh n khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải. Nên các bị cáo được hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định t i Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra bị cáo Huấn đã tự nguyện khai báo hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Đinh Trung Hưng ngày 20/5/2024, khi mà c quan cảnh sát điều tra chưa phát hiện ra hành vi ph m tội này của bị cáo Huấn. Cho nên, bị cáo Huấn còn được hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định t i Điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là: “Người phạm tội tự thú”. Mặt khác, mẹ đẻ bị cáo Thư ng là thanh niên xung phong, thư ng tật h ng 4, nên thuộc gia đình có công với cách m ng; do vậy, bị cáo Thư ng được hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định t i khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, các bị cáo đều có nhân thân xấu, đều đã từng bị Tòa án xét x về các hành vi vi ph m pháp luật; Đối với bị cáo Thư ng đang có 01 tiền án về ma túy chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà l i tiếp t c ph m tội do lỗi cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật, nên lần ph m tội này bị cáo phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự được quy định t i Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đó là: “Tái phạm”; Bị cáo Huấn không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Do vậy, khi quyết định hình ph t Hội đồng xét x sẽ xem xét để x ph t các bị cáo với mức án phù hợp, t o điều kiện các bị cáo có c hội s a chữa lỗi lầm của mình, tr thành người công dân có ích cho xã hội.

- Về hình ph t bổ sung: Quá trình điều tra, c quan CSĐT đã ác định ngoài đồ dùng sinh ho t hàng ngày và tài sản bị thu giữ khi bị bắt quả tang, các bị cáo không có tài sản gì khác có giá trị. Do vậy, cần miễn áp d ng hình ph t bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo, là phù hợp.

[3] Về x lý vật chứng:

- Đối với tài sản là 01 chiếc điện tho i di động nhãn hiệu OPPO đã cũ, thu giữ của bị cáo Huấn. Quá trình điều tra ác định đây là chiếc điện tho i mà bị cáo Huấn mượn của anh Nguyễn Văn Anh, là chủ c a hàng điện tho i Anh mobile t i khu 3B, xã Chu Hoá, thành phố Việt Trì, nhưng anh Anh hoàn toàn không biết việc bị cáo Huấn mượn chiếc điện tho i này để dùng vào m c đích vi ph m pháp luật. Vì vậy, cần trả l i cho anh Anh là phù hợp; Còn Sim bên trong máy điện tho i cần tịch thu tiêu hủy, vì đây là Sim của bị cáo Huấn để dùng vào việc ph m tội là phù hợp.

- Đối với 01 điện tho i di động nhãn hiệu IPHONE đã cũ, thu giữ của bị cáo Thư ng. X t thấy, đây là điện tho i của bị cáo Thư ng dùng để liên l c hàng ngày và s d ng vào việc mua bán trái phép chất ma túy, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; Còn Sim bên trong máy điện tho i cần tịch thu tiêu hủy, vì không có giá trị s d ng là phù hợp;

- Số tiền 500.000 đồng, mà c quan CSĐT thu giữ khi bắt bị cáo Huấn; Xét thấy, đây là số tiền do Huấn bán trái phép chất ma túy cho Đinh Trung Hưng trước đó mà có, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

- Đối với số tiền 12.580.000 đồng, mà bị cáo Thư ng bán ma túy cho bị cáo Huấn mà có, là khoản tiền thu lời bất chính, nên cần buộc bị cáo Thư ng phải nộp l i số tiền 12.580.000 đồng để sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

- Về số tiền 1.000.000 đồng, mà bị cáo Huấn bán ma túy cho Nguyễn Doãn Tuấn mà có; xét thấy, đây là khoản tiền do thu lời bất chính mà có, nên cần buộc bị cáo Huấn phải nộp l i số tiền 1.000.000 đồng, để sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

- Cần tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của các bị cáo do Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Phú Thọ, hoàn trả mẫu vật còn l i sau khi đã giám định, do Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành là phù hợp.

- Đối với 01 cóng thủy tinh thu giữ của bị cáo Huấn và 04 cóng thủy tinh thu giữ của bị cáo Thư ng; t thấy đây là d ng c với m c đích để các bị cáo s d ng ma túy, nên cần tịch thu tiêu hủy, là phù hợp.

- Cần trả l i cho bị cáo Huấn 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Trọng Huấn là phù hợp.

- Cần tịch thu tiêu hủy 01 thẻ điều trị Methadone mang tên Nguyễn Văn Thư ng thu giữ của bị cáo Thư ng, vì không còn giá trị s d ng là phù hợp.

- Đối với 01 cân điện t thu giữ của bị cáo Thư ng, t thấy, đây là công c mà bị cáo Thư ng dùng để mua bán trái phép chất ma túy, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

[4] Các vấn đề khác:

- Về hành vi s d ng trái phép chất ma túy của Nguyễn Trọng Huấn và Nguyễn Văn Thư ng: Ngày 25/8/2024, Công an thành phố Việt Trì đã Quyết định x ph t vi ph m hành chính đối với Huấn và Thư ng bằng hình thức Cảnh cáo, là phù hợp.

- Đối với hành vi s d ng trái phép chất ma túy của Trần Doãn Tuấn vào ngày 29/01/2024 và 04/02/2024. Ngày 24/6/2024, Công an thành phố Việt Trì đã ra Quyết định x ph t vi ph m hành chính đối với Tuấn bằng hình thức ph t tiền 1.500.000 đồng, là phù hợp.

- Đối với hành vi s d ng trái phép chất ma túy của Đinh Trung Hưng vào ngày 20/5/2024. Ngày 31/7/2024, Công an thành phố Việt Trì đã ra Quyết định x ph t vi ph m hành chính đối với Hưng bằng hình thức Cảnh cáo, là phù hợp.

- Đối với người đàn ông tên S n đã 02 lần bán ma túy cho bị cáo Thư ng t i khu vực phường Kim Giang, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội và người ph nữ tên Hư ng đã bán ma túy cho bị cáo Huấn t i khu vực bến xe Mỹ Đình; xét thấy, ngoài lời khai của bị cáo Thư ng và Huấn, không có tài liệu nào khác để chứng minh. Do vậy, C quan CSĐT không có căn cứ ác định được 02 người như các bị cáo đã khai, là phù hợp.

- Đối với những người nghiện mà bị cáo Huấn và bị cáo Thư ng đã bán ma túy; nhưng do các bị cáo không quen biết, không nhớ đã bán cho ai, đâu và không nhớ rõ số tiền mua bán. Cho nên, c quan CSĐT không có căn cứ x lý, là phù hợp.

- Đối với người công nhân đã cho bị cáo Thư ng mượn e máy để làm phư ng tiện đi bán ma túy; nhưng do bị cáo Thư ng không nhớ rõ người đó là ai, nên c quan CSĐT không đề cập x lý, là phù hợp.

- Đối với chiếc xe taxi mà bị cáo Huấn đã thuê để đi uống Hà Nội và về để giao dịch mua bán ma túy; nhưng bị cáo Huấn không nhớ rõ biển số xe và hãng e đã thuê, nên c quan CSĐT không đề cập x lý, là phù hợp.

- Đối với chiếc điện tho i có Sim số 0789.076.001 mà bị cáo Huấn dùng để trao đổi, liên l c mua bán ma túy các lần. Ngày 19/5/2024, chiếc điện tho i đã bị hỏng, bị cáo Huấn đã đập vỡ nát, vứt bỏ cả điện tho i và Sim số 0789.076.001. Cho nên, c quan CSĐT không thu giữ được nên không đề cập x lý, là phù hợp

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[6] X t đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh và hình ph t cũng như các vấn đề khác đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾ ĐỊNH:

1. Căn cứ vào:

- Điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Đối với bị cáo Nguyễn Trọng Huấn;

- Điểm b, i khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Đối với bị cáo Nguyễn Văn Thư ng;

- Điểm a,b,c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a,b,c khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH.14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường v Quốc Hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Huấn và bị cáo Nguyễn Văn Thư ng ph m tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;

- X ph t bị cáo Nguyễn Trọng Huấn 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày bắt t m giữ, t m giam 20/5/2024.

- X ph t bị cáo Nguyễn Văn hƣơng 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày bắt t m giữ, t m giam 24/5/2024.

* Về hình ph t bổ sung: Miễn áp d ng hình ph t bổ sung cho các bị cáo.

* Về x lý vật chứng:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện tho i di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu trắng đã qua s d ng, màn hình bị vỡ, số IMEI: 355770076762201 thu giữ của bị cáo Thư ng và số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), thu giữ của bị cáo Huấn và 01 cân điện t màu trắng, đã qua s d ng thu giữ của bị cáo Thư ng

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn Thư ng phải có trách nhiệm nộp l i số tiền 12.580.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng), và buộc bị cáo Nguyễn Trọng Huấn phải có trách nhiệm nộp l i số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), để sung quỹ Nhà nước.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 722/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Phú Thọ, hoàn trả 2.083gam chất rắn d ng tinh thể màu trắng và 0,069gam chất bột c c màu hồng cùng toàn bộ bao gói g i đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Trọng Huấn; 01 bì niêm phong số 739/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Phú Thọ, hoàn trả 0,025gam chất rắn d ng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn l i trong bì niêm phong số 01, 02 cùng toàn bộ bao gói g i đến giám định thu giữ của Nguyễn Văn Thư ng; 04 cóng thủy tinh thu giữ của bị cáo Thư ng (04 cóng thủy tinh này bên trong bì niêm phong số 739/KL-KTHS); 01 cóng thủy tinh thu giữ của bị cáo Huấn; 01 Sim số 0389.512.886 lắp bên trong chiếc điện tho i di động OPPO thu giữ của bị cáo Huấn; 01 Sim số 0332.900.662 lắp bên trong chiếc điện tho i di động IPHONE thu giữ của bị cáo Thư ng và 01 thẻ điều trị Methadone (M) mang tên Nguyễn Văn Thư ng.

- Trả l i cho bị cáo Huấn 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Trọng Huấn.

- Trả l i cho anh Nguyễn Văn Anh 01 điện tho i di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu hồng, đã qua s d ng, số IMEI: 863632032213874.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/10/2024, giữa Cơ quan Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và theo Biên lai thu tiền số: 0004808 ngày 11/10/2024, của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).

2. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Trọng Huấn và bị cáo Nguyễn Văn Thư ng mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng, (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự s th m.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa v liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc kể từ ngày bản án này được niêm yết theo quy định của pháp luật)./.

N

ận:

Cỡ chữ