- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Đức T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Đức T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2024/HS-ST Ngày 21 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Trần Thanh Thư
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Truyền
Ông Lê Huỳnh Sinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2024/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Ngô Đức T, sinh năm 1995 tại Ninh Thuận.
Nơi thường trú: Khu phố 01, phường TT, thành phố p, tỉnh Ninh Thuận. Chỗ ở hiện nay: Khu phố 02, phường T, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới Th: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Đức T và bà Đặng Thị Hồng H; có vợ là bà Trần Thị Mỹ H và 02 người con. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Ngày 23-4-2012 bị Công an phường TT xử phạt 375.000 đồng về hành vi “Tụ tập nhiều người nơi công cộng gây mất trật tự công cộng”.
+ Ngày 16-4-2014, bị Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12-9-2015.
+ Ngày 07-3-2016, bị Công an phường T xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”.
+ Ngày 06-01-2017, bị Công an thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Ngày 17-3-2017, bị Công an thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Ngày 05-6-2017, bị Công an thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
- Bị hại: Ông Lê Nh, sinh năm 1967; (Có mặt).
Nơi cư trú: Khu phố 02, phường P, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Lê Ngọc Ch, sinh năm 1989; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố 05, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
+ Ông Trần Đại Minh H, sinh năm 1984; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố 06, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
+ Ông Nguyễn Hồng T, sinh năm 1994; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố Khánh Giang, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
+ Ông Nguyễn Hồng D, sinh năm 1987; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố K, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- Những người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Ngọc Ph, sinh năm 1983; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố 06, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
+ Ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1988; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố 06, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
+ Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1985; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố 06, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 03-9-2023, Ngô Đức T đang ngồi trước nhà Nguyễn Ngọc Ph thì nhìn thấy Nguyễn Hồng T cầm 01 cây gậy ba khúc cùng Nguyễn Hồng D, Lê Ngọc Ch đi qua gặp anh P để giải quyết mâu thuẫn giữa P và D trước đó. Tại đây, Châu và anh P xảy ra cãi nhau, T và D đi bộ về nhà Trần Đại Minh H, T cũng bỏ về. Khi đến khu vực ngã ba đường mòn gần nhà P, T nhìn thấy H, T, D, Lê Nh cầm hung khí gồm: 01 mã tấu bằng kim loại, có lưỡi dài 50cm, cán dài 18,5m; 01 ống sắt màu đen dài 80cm; 01 cây gậy ba khúc dài 62cm đang đi về phía T, T la lên thì bị Nh cầm 01 cây mã tấu chém trúng vùng đầu pH của T gây thương tích. Tức giận vì bị chém, T chạy đến lùm cây cách vị trí chém khoảng 6,7 mét, lấy 01 cây mác dài 1,2 mét, có phần cán bằng tre, lưỡi bằng kim loại của anh Nguyễn Ngọc B dùng phát cỏ để ở đây, rồi T cầm cây mác quay lại chém về phía H, Nh, T, D. Thấy vậy, Nh chạy đến giơ tay phải chụp lưỡi cây mác của T thì bị chém đứt ngòn I bàn tay phải, Châu chạy đến ôm giữ T từ phía sau, còn H, T, D dùng hung khí chém, đánh T gây thương tích thì được người dân xung quanh can ngăn.
Tại Bản kết luận giám định số 228/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 11-10-2023 của Trung Tâm giám định Y khoa-Pháp y của Sở y tế tỉnh Ninh Thuận kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Nh tại thời điểm giám định là 21%, cụ thể như sau:
+ Vết thương đứt lìa ngón I bàn tay phải, mỏm cụt sẹo liền tốt kích thước (4,5x0,1)cm (21%). Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương qua điều trị nhận định do vật sắc gây nên.
Tại Bản kết luận giám định số 228/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 11-10-2023 của Trung Tâm giám định Y khoa-Pháp y của Sở y tế tỉnh Ninh Thuận kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Ngô Đức T tại thời điểm giám định là 09%. Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương qua điều trị nhận định do vật sắc gây nên. Các vết thương trên không ảnh hưởng đến Th mạng.
Bản Cáo trạng số: 114/CT-VKSPRTC ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm truy tố bị cáo Ngô Đức T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (Điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Ngô Đức T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến gì với Bản kết luận giám định pháp y như trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự; điểm b (tự nguyện bồi thường thiệt hại), điểm s (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi) khoản 1; Khoản 2 (bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sự việc xảy ra có lỗi của bị hại) Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Đức T từ 12 đến 15 tháng tù giam.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 mã tấu bằng kim loại, có lưỡi dài 50cm, cán dài 18,5cm; 01 ống sắt màu đen dài 80cm; 01 cây gậy ba khúc dài 62cm là công cụ dùng để đánh nhau, không còn giá trị sử dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Nh yêu cầu bồi thường 15.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường cho bị hại.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cãi về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xử nhẹ để bị cáo về nhà chăm sóc con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ, ngày 03-9-2023, tại Khu phố 6, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận, sau khi bị nhóm Lê Ngọc Ch, Trần Đại Minh H, Nguyễn Hồng T, Nguyễn Hồng D, Lê Nh dùng hung khí chém bị cáo gây thương tích, mặc dù có điều kiện và khả năng bỏ chạy nhưng Ngô Đức T vẫn lấy 01 cây mác dài 1,2 mét, có phần cán bằng tre, lưỡi bằng kim loại chém Lê Nh gây thương tích đứt lìa ngón I bàn tay phải, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 21% (Hai mươi mốt phần trăm). Vì vậy, Bản Cáo trạng số 114/CT-VKSPRTC ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm truy tố bị cáo Ngô Đức T về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung dùng hung khí nguy hiểm theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.
Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ khả năng nhận thức về việc dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây thương tật vĩnh viễn cho bị hại, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, phải xử phạt bị cáo mức án phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả mà hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo thấy: Sự việc xảy ra do có lỗi của bị hại khi dùng hung khí nguy hiểm tấn công bị cáo trước, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy: Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và sự việc xảy ra do bị hại cùng những người khác dùng hung khí nguy hiểm tấn công bị cáo trước, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại 15.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi của Lê Ngọc Ch, Trần Đại Minh H, Nguyễn Hồng T, Nguyễn Hồng D, Lê Nh dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Ngô Đức T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09%. Bị cáo Ngô Đức T tự nguyện làm đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra không khởi tố hành vi trên là đúng quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 mã tấu bằng kim loại, có lưỡi dài 50cm, cán dài 18,5cm; 01 ống sắt màu đen dài 80cm; 01 cây gậy ba khúc dài 62cm là công cụ dùng để đánh nhau, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 01 cây mác dài 1,2 mét, có phần cán bằng tre, lưỡi bằng kim loại là hung khí bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, sau khi sự việc xảy ra anh Nguyễn Ngọc Ph đã ném bỏ, không thu giữ được.
Đối với 01 đĩa CD có chứa dữ liệu video ghi lại hình ảnh ở khu vực hiện trường gây án, lưu vào hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Đức T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Ngô Đức T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mã tấu, phần lưỡi bằng kim loại dài 50cm, rộng 05cm, phần cán bằng kim loại hình trụ tròn Ø34, dài 18,5cm; 01 (một) ống sắt Ø27, màu đen, dài 80cm, có dây buộc một đầu; 01 (một) cây gậy ba khúc, có tổng chiều dài 62cm, trong đó có phần cán màu đen dài 23cm.
(Vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang
- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29-5-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Ngô Đức T pH chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại. Quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QL&NV liên quan; - VKSND TP. PR-TC; - CQĐT Công an TP. PR-TC; - CQTHAHS Công an TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - TAND tỉnh Ninh Thuận; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Trần Thanh Thư |