vanban.org

Bản án 122/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Bá T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: 1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 01/9/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T cùng đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Bá T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 122/2024/HS-ST
Ngày 18-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Kim Niệm;

2. Bà Lê Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Giàu - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Văn T, sinh năm 1988; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp 2, xã ĐT, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông Lê Văn S và bà Lê Thị H; bị cáo có vợ là Cao Thị Thanh H1, sinh năm 1993 và 01 người con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 01/9/2024 cho đến nay; có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Bá T1, sinh năm 1987; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 4B, ấp AH, xã TT, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 08/12; con ông Nguyễn Bá K (đã chết) và bà Trần Thị M; bị cáo có 01 người con sinh năm 2006; tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 02/8/2024, bị Uỷ ban nhân dân xã TL, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 125/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 2.500.000 đồng, đã nộp phạt.

Nhân thân:

- Ngày 03/8/2015, bị Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 46/2015/HSST, chấp hành xong ngày 03/11/2015.

- Ngày 26/6/2017, bị Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 19/2017/HSST ngày 26/6/2017.

- Ngày 19/6/2018, bị Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 26/2018/HSST. Tổng hợp hình phạt tại bản án số 19/2017/HSST ngày 26/6/2017 của Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 05 năm tù, chấp hành xong án phạt tù ngày 25/8/2021.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 01/9/2024 đến ngày 17/11/2024 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Vương Văn V, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ 2, ấp 6, xã TH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vương Thị Lệ T1, sinh năm 1999; nơi cư trú: Tổ 2, ấp 6, xã TH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/9/2024, bị cáo Lê Văn T điều khiển xe ôtô tải biển số 51C-146.53 chở bị cáo Nguyễn Bá T1 đi từ thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đến xã TH, huyện Phú Giáo. Khi đến vườn dưa lưới thuộc ấp 3, xã TH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, bị cáo T dừng xe ô tô lại, bị cáo T cùng bị cáo T1 đi vào vườn dưa lưới hỏi mua dưa nhưng không thấy ai. Lúc này, bị cáo T và bị cáo T1 thấy 01 xe mô tô biển số 61F1-216.58 của ông Vương Văn V đang dựng ngoài vườn nên các bị cáo T, T1 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, bị cáo T trực tiếp dắt xe ra ngoài, còn bị cáo T1 ngồi trên xe ô tô cảnh giới. Khi bị cáo T dắt xe mô tô ra đến xe ô tô tải, bị cáo T1 mở thùng xe ô tô tải để đưa xe mô tô lên, khi các bị cáo T và T1 đang đưa xe mô tô biển số 61F1-216.58 lên thùng xe ô tô tải biển số 51C-146.53 thì bị Công an xã TH tuần tra phát hiện bắt quả tang.

Kết luận định giá tài sản số 100/KL- ĐGTS ngày 04/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Giáo xác định 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 61F1-216.58 có giá trị 10.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen biển số 61F1-215.68 là tài sản các bị cáo T, T1 trộm cắp của ông V;

- 01 (một) xe ô tô biển số 51C-146.53 thu giữ của bị cáo T.

Tại bản Cáo trạng số 125/CT-VKSPG ngày 01/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Bá T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Bá T1 phạm tội Trộm cắp tài sản, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 01 năm đến 01 năm 3 tháng tù;

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T1 từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Vương Văn V đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Bá T1 bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen biển số 61F1-215.68 là tài sản các bị cáo T, T1 trộm cắp của ông V. Qua xác minh, xe mô tô do bà Vương Thị Lệ T1 (con gái của ông Vương Văn V) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 09/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo ra Quyết định trả lại xe mô tô biển số 61F1-216.58 cho bà T1. Do đó không đặt ra xem xét;

- 01 (một) xe ô tô biển số 51C-146.53 thu giữ của bị cáo T. Qua xác minh, xe ô tô do ông Nguyễn Thanh D, địa chỉ 49/15, khu phố 6, phường BHH A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu, ông Dũng khai nhận đã bán xe ô tô biển số 51C-146.53 cho người khác. Bị cáo Lê Văn T khai xe ô tô biển số 51C-416.53 mua lại của một người (không rõ nhân thân lai lịch). Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Giáo đã đăng báo ở 03 kỳ liên tục nhưng không có ai đến liên hệ giải quyết. Xét thấy, xe ô tô tải biển số 51C-416.53 là tài sản của bị cáo Lê Văn T sử dụng vào việc phạm tội đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, các bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản của bị hại là 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius có giá trị 10.000.000 đồng. Các bị cáo thống nhất với tội danh, hình phạt của đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo khai: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/9/2024, tại ấp 3, xã TH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Bá T1 lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 61F1-215.68 có giá trị 10.000.000 đồng của ông Vương Văn V đang dựng trong vườn dưa lưới nhằm bán lấy tiền tiêu xài.

Hành vi của các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Bá T1 lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác của chủ sở hữu đã chiếm đoạt tài sản của bị hại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius giá trị 10.000.000 đồng, các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên hành vi của các bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Bá T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Xét hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người bị hại mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Xét động cơ, mục đích phạm tội vì tham lam, tư lợi, muốn có tiền tiêu xài không phải hao tốn sức lao động, bị cáo đã bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Về nhân thân: Bị cáo T1 là người có nhân thân xấu, đã 03 lần bị Tòa án kết án hình phạt tù và 01 lần bị xử phạt hành chính về tội trộm cắp tài sản mà không lấy đó làm bài học, thay đổi, sửa chữa trở thành người công dân có ích cho xã hội mà còn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần có mức phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe các bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm, trong đó bị cáo T vừa đóng vai trò là người rủ rê vừa là người thực hành, bị cáo T1 là người giúp sức tích cực. Do đó, khi quyết định hình phạt HĐXX sẽ phân hóa vai trò của các bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đối với bị cáo Lê Văn T, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Còn đối với bị cáo Nguyễn Bá T1 có cha là ông Nguyễn Bá K là thương binh hạng 2/4. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo T; áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo T1.

[4] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Vương Văn V không yêu cầu các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Bá T1 bồi thường nên không đặt ra xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen biển số 61F1-215.68 là tài sản các bị cáo T, T1 trộm cắp của ông V. Qua xác minh, xe mô tô do bà Vương Thị Lệ T1 (con gái của ông Vương Văn V) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 09/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo ra Quyết định trả lại xe mô tô biển số 61F1-216.58 cho bà T1. Do đó HĐXX không đặt ra xem xét, xử lý.

- 01 (một) xe ô tô biển số 51C-146.53 thu giữ của bị cáo T. Qua xác minh, xe ô tô do ông Nguyễn Thanh D, địa chỉ 49/15, khu phố 6, phường BHH A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu, ông Dũng khai nhận đã bán xe ô tô biển số 51C-146.53 cho người khác. Bị cáo Lê Văn T khai xe ô tô biển số 51C-416.53 mua lại của một người (không rõ nhân thân lai lịch). Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Giáo đã đăng báo ở 03 kỳ liên tục nhưng không có ai đến liên hệ giải quyết. Xét thấy, xe ô tô tải biển số 51C-416.53 là tài sản của bị cáo Lê Văn T, bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội. Do đó, HĐXX quyết định tịch thu xe ô tô tải biển số 51C-416.53 sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Điều 106, 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Bá T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

2.1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 01/9/2024.

2.2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T1 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 01/9/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe ô tô biển số 51C-146.53.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Bá T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ