- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá Quang phạm tội gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 118/2023/HS-ST ngày 01/11/2023, của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, TP ..
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2024/HS-PT Ngày: 27/02/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa:
Bà Vũ Thị Thu Thủy.
Các thẩm phán:
Bà Trần Thị Lê Na
Bà Nguyễn Bích Ngân
- Thư ký phiên tòa:
Ông Nguyễn Việt Hùng, Thẩm tra viên TAND
TP. Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 991/2023/HSPT ngày: 08/12/2023 với bị cáo Nguyễn Bá Q, Đỗ Chí H, Đỗ Chí D do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Bá Q, Đỗ Chí H, Đỗ Chí D đối với Bản án sơ thẩm số: 118/2023/HS-ST ngày 01/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, TP ., đối với:
1. Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Bá Q- sinh năm 1983, tại Hà Nội; Nơi đăng ký thường trú và trú tại: thôn V, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp:Tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Bá H1 và bà Nguyễn Thị Y; vợ Nguyễn Thị C, có hai con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2009;Tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 16/3/2016, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo (Vắng mặt tại phiên tòa).
2/ Bị cáo có kháng cáo Đỗ Chí H, sinh năm 1998, tại Hà Nội; Nơi đăng ký thường trú và trú tại: thôn V, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Chí T và bà Nguyễn Thị H2; chưa có vợ con; Tiền sự: không; Tiền án: Ngày 13/8/2019, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/02/2023, chưa xóa án tích); Bị cáo bị tạm giữ ngày 06/8/2023, tạm giam ngày 09/8/2023 (Theo danh chỉ bản số 326 do công an huyện T lập ngày 10/8/2023). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3/ Bị cáo có kháng cáo Đỗ Tiến D1, sinh năm 2002, tại Hà Nội; Nơi đăng ký thường trú và trú tại: thôn V, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Chí T và bà Nguyễn Thị H2; vợ Nguyễn Thị T1; có một con sinh năm 2022; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 22/02/2022, Công an huyện T, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “đánh nhau” mức phạt tiền là 750.000 đồng và “vi phạm nghĩa vụ của người tham gia tố tụng” mức phạt tiền là 1.500.000 đồng, tổng mức phạt tiền chung là 2.250.000 đồng (chưa nộp tiền phạt); Bị cáo bị tạm giữ ngày 12/8/2023, tạm giam ngày 15/8/2023 (Theo danh chỉ bản số 330 do công an huyện T lập ngày 15/8/2023). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Có 04 bị cáo không có kháng cáo (Dương Văn K, Trần Thanh T2, Dương Văn T3, Nguyễn Bá P).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo:
1/ Anh Dương Văn D2, sinh năm 1994 (vắng mặt)Trú tại: thôn P, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
2/Bà Lương Thị T4, sinh năm 1969 (vắng mặt); Trú tại: thôn V, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 20/02/2023, Trần Thanh T2, Dương Văn K, Dương Văn D2, Dương Văn T3 đến quán C2 thuộc địa phận thôn V, xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội để uống bia và hát karaoke tại phòng hát số 6 của quán. Khi nhóm của T2 đang ngồi hát karaoke thì có Nguyễn Bá Q, Đỗ Chí H đang hát karaoke tại phòng VIP 1 của quán C2 đi vào cùng uống bia giao lưu với nhóm của T2. Quá trình uống bia giữa T2 và H có xảy ra mâu thuẫn lời qua tiếng lại. Sau đó, Q và H đi về phòng hát của mình tại phòng VIP 1. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày nhóm của T2 đi ra khỏi phòng để thanh toán tiền thì gặp nhóm Q nên T2, T3, Văn D2, K đi vào phòng hát VIP 1 gặp nhóm Q để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn giữa H và T2. Lúc này trong phòng VIP 1 có Nguyễn Bá Q, Đỗ Chí H, Nguyễn Bá P, Đỗ Tiến D1, Lương Đình L, Lương Đình T5, Lương Văn T6, ngoài ra còn có các chị Bùi Thị T7, Nguyễn Thị H2, Hạng Thị L1, Bùi Thị C1 là nhân viên được gọi đến để rót bia và bấm bài hát cho nhóm của Q. Quá trình nói chuyện giữa Q và K có xảy ra to tiếng với nhau thì các chị T7, H2, L1, C1 đi ra khỏi phòng VIP 1. Lúc này Q cầm cốc thủy tinh đập trúng vào mặt của K, K cầm chai bia thủy tinh ở trên bàn đập vào đầu Q rồi bỏ chạy nhưng bị trượt chân ngã. Thấy vậy, H, Tiến D1, P tiếp tục xảy ra xô xát đánh nhau với K, T2, T3. Luyện, T5, Văn D2, T6 can ngăn hai bên nhưng không được. Sau đó, K và T2 bỏ chạy ra ngoài và cùng nhau lấy chai bia ở trong các thùng bia ở trong quán ném vào cửa phòng VIP 1. Hơn chạy ra ngoài cầm chai bia ném nhau với K, T2, T3. Hơn cầm chai bia thủy tinh đập vào đầu T3. K, T2, T3, Q, H, Tiến D1, P đi ra ngoài sân trong khuôn viên của quán tiếp tục hò hét, chửi bới, cầm các chai bia thủy tinh, gạch, xô nhựa trong quán đuổi đánh, ném nhau chạy ra cổng quán. Tại thời điểm xảy ra vụ việc trong quán có quản lý, nhân viên của quán. Nhóm của T2 và H đuổi đánh, ném nhau trong khoảng thời gian 15 đến 20 phút, khi lực lượng công an xã H đến thì hai nhóm dừng lại không đuổi ném nhau nữa.
Về thương tích: Dương Văn K bị gãy xương mũi, đa vết thương phần mềm vùng đầu mặt và cẳng tay trái. Nguyễn Bá Q bị đa vết thương vùng đầu, trán, vết thương gan bàn tay trái. Dương Văn T3 bị thương ở cung mày trái, vết thương da ô mô cái tay phải, sưng nề đỉnh thái dương phải. Trần Thanh T2 bị vết thương góc môi cằm trái, vết thương da hai bên gối và vết thương bàn chân hai bên. Dương Văn D2 bị vết thương da đầu vùng đỉnh bên phải, trầy xước da, vết thương các ngón tay trái và phía trước vai phải.
Về tài sản: 16 chai bia bằng thủy tinh, nhãn hiệu Heineken, dung tích 330ml; 62 chai bia bằng thủy thinh, nhãn hiệu Tuborg, dung tích 330ml; 84 chai bia bằng thủy tinh, nhãn hiệu Tiger Silver, dung tích 330ml; 02 tấm kính mặt bàn, loại kính thường có kích thước (120x55x1)cm; 01 tấm kính cửa, loại kính thường có kích thước (35x35x1)cm; 28 vỏ chai bia bằng thủy tinh, nhãn hiệu Tuborg, loại có dung tích 330ml; 10 cốc thủy tinh có quai kích thước (10x6x12)cm. Tất cả các tài sản trên bị hư hỏng hoàn toàn.
Tang vật thu giữ: Nhiều mảnh thủy tinh bị vỡ có đặc điểm, kích thước khác nhau; 01 USB lưu giữ video hình ảnh các đối tượng đuổi ném nhau vào ngày 20/02/2023 tại quán C2.
Cơ quan điều tra đã ra các Quyết định trưng cầu giám định mức độ tổn hại sức khỏe và cơ chế hình thành thương tích đối với Dương Văn K, Nguyễn Bá Q, Dương Văn T3, Trần Thanh T2, Dương Văn D2 nhưng K, Q, T2, Văn D2 từ chối giám định thương tích và không có ý kiến thắc mắc hay đề nghị gì về thương tích của bản thân.
Tại bản kết luận định giá số 27/KL-HĐĐG ngày 23/5/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 16 chai bia bằng thủy tinh, nhãn hiệu Heineken, dung tích 330ml có giá 256.000 đồng; 62 chai bia bằng thủy thinh, nhãn hiệu Tuborg, dung tích 330ml có giá 868.000 đồng; 84 chai bia bằng thủy tinh, nhãn hiệu Tiger Silver, dung tích 330ml có giá 1.176.000 đồng; 02 tấm kính mặt bàn, loại kính thường có kích thước (120x55x1)cm có giá 330.000 đồng; 01 tấm kính cửa, loại kính thường có kích thước (35x35x1)cm có giá 31.000 đồng; 28 vỏ chai bia bằng thủy tinh, nhãn hiệu Tuborg, loại có dung tích 330ml có giá 112.000 đồng; 10 cốc thủy tinh có quai kích thước (10x6x12)cm có giá 50.000 đồng. Tổng giá trị yêu cầu định giá là 2.823.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Ngày 21/02/2023, Đảng ủy- Hội đồng nhân dân -Ủy ban nhân dân xã H có báo cáo phản ánh sự việc: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/02/2023, tại quán C2 thuộc thôn V, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội có hai nhóm thanh niên cầm theo hung khí (chai bia, vỏ chai bia và cốc thủy tinh) đuổi đánh nhau dẫn đến cả hai nhóm đều có người bị thương và tài sản của quán bị thiệt hại, hư hỏng. Hành vi của các đối tượng là nguy hiểm cho xã hội, coi thường pháp luật, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây hoang mang lo sợ trong quần chứng nhân dân và ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Công an xã H đề nghị các cơ quan tố tụng huyện T tiến hành điều tra làm rõ các đối tượng và các hành vi vi phạm để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số118/2023/HSST ngày 01/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín đã quyết định:
Phạt bị cáo Nguyễn Bá Q 26 tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng” thời hạn tù tính từ bắt thi hành án, theo điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phạt bị cáo Đỗ Chí H 26 tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng” thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/8/2023, theo điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38- Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phạt bị cáo Đỗ Tiến D1 24 tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng” thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/8/2023, điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phạt bị cáo: Dương Văn K, Trần Thanh T2, Dương Văn T3, Nguyễn Bá P mỗi bị cáo 24 (hai bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, theo điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65- Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định án phí, quyền kháng cáo.
- Ngày 6/11/2023 Bị cáo Nguyễn Bá Q có đơn kháng cáo nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Ngày 27/2/2024 bị cáo nộp đơn xin rút đơn kháng cáo.
Ngày 8/11/2023 bị cáo Đỗ Chí H và Đỗ Tiến D1 có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt, tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tình chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Bá Q. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số:118/2023/HSST ngày 01/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín về hình phạt đối với bị cáo Đỗ Chí H và Đỗ Tiến D1, phạt Đỗ Chí H 26 tháng tù, phạt Đỗ Tiến D1 24 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo là đúng về chủ thể kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/02/2023, tại quán C2 thuộc địa phận thôn V, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội do có mâu thuẫn trong việc mời bia giữa nhóm của Trần Thanh T2 gồm T2, Dương Văn K, Dương Văn T3 và nhóm của Đỗ Chí H gồm H, Đỗ Bá Q1, Đỗ Tiến D1, Nguyễn Bá P. Các đối tượng trong hai nhóm trên có hành vi sử dụng các cốc thủy tinh, vỏ chai bia và chai bia bằng thủy tinh, xô nhựa, gạch ở trong phòng hát và trong khuôn viên quán đuổi đánh, ném nhau từ trong phòng hát VIP 1 ra ngoài hành lang bên ngoài phòng hát, ra khuôn viên của quán và ra cổng quán. Tại thời điểm xảy ra vụ việc trong quán có nhiều người gồm quản lý và nhân viên của quán, những người bạn trong nhóm T2 và H. Cả hai nhóm đuổi đánh, ném nhau khoảng thời gian 15 đến 20 phút, khi lực lượng công an xã H đến thì dừng lại không đuổi, đánh, ném nhau nữa. Hậu quả Dương Văn K, Nguyễn Bá Q, Dương Văn T3, Trần Thanh T2, Dương Văn D2 bị thương tích và các tài sản là các chai bia và vỏ chai bia bằng thủy tinh, tấm kính mặt bàn, tấm kính cửa, cốc thủy tinh của quán C2 bị hư hỏng ( trị giá 2.823.000 đồng).
Hành vi đuổi đánh nhau của các đối tượng tại quán C2 2 thể hiện coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại khu vực địa phương. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Bá Q, Dương Văn K, Đỗ Chí H, Đỗ Tiến D1, Trần Thanh T2, Dương Văn T3, Nguyễn Bá P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tòa án nhân dân huyện Thường Tín xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3]Xét kháng cáo bị cáo Nguyễn Bá Q, Đỗ Chí H, Nguyễn Tiến D3
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công
cộng, gây mất trật tự trị an an toàn xã hội ở địa phương.
Các bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do coi thường pháp luật, nên cố ý phạm tội.
Đối với kháng cáo của Nguyễn Bá Q, trước khi mở phiên tòa ngày 27/2/2024 bị cáo Q nộp đơn xin rút đơn kháng cáo, việc rút đơn kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Bá Q, quyết định của bản án sơ thẩm đối Nguyễn Bá Q có hiệu lực pháp luật.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Chí H, Nguyễn Tiến D3 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo D3, ra đầu thú, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đỗ Chí H bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Cấp sơ thẩm áp dụng là có căn cứ đúng pháp luật.
Về vai trò của các bị cáo: Nguyễn Bá Q là đối tượng chủ động đầu tiên có hành vi đánh Dương Văn K, K đánh trả lại Q sau đó dẫn đến hai nhóm đánh, ném nhau. Đỗ Chí H, Đỗ Tiến D1, Nguyễn Bá P, Trần Thanh T2, Dương Văn T3 là những đồng phạm giúp sức tích cực cùng tham gia đuổi đánh, ném nhau, hò hét, chửi bới. Trong vụ án vai trò của Q là chủ mưu vụ án, các bị cáo còn lại có vai trò đồng phạm giúp sức như nhau.
Bị cáo Đỗ Chí H bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm, Đỗ Tiến D1 có 01 tiền sự chưa được xóa, các bị cáo H, Tiến D1 cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù là có căn cứ đúng pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm không có tình tiết mới, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên căn cứ kết quả xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử xét thấy
Sau khi hai nhóm đánh nhau được giải tán, Ngày 21/02/2023, Đảng ủy- Hội đồng nhân dân -Ủy ban nhân dân xã H có báo cáo phản ánh sự việc, cơ quan điều tra Công an huyện T mới tiến hành điều tra lấy lời khác các đối tượng liên quan, quá trình điều tra các bị cáo D1, H đã khai ra các bị cáo khác cùng đồng phạm cơ quan điều tra đã khởi tố, truy tố các bị cáo đồng phạm trong vụ án nhưng cấp sơ thẩm không áp dung tình tiết “ Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm” theo điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thiếu sót ( hướng dẫn tại Công văn số 212/TATC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao). Ngoài ra vụ án trên là vụ án đồng phạm cấp sơ thẩm đánh giá vai trò các bị cáo nhưng phần quyết định của Bản án không áp dụng Điều 17 và 58 Bộ luật hình sự để cá thể hóa hình phạt đối với các bị cáo trong vụ án có đồng phạm là thiếu sót.
Bị cáo có D1 và H có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo hưởng mức án dưới khung hình phạt, giảm 1 phần hình phạt cho bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.
Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo D1 và H sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 118/2023/HS-ST ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội về phần hình phạt giảm hình phạt cho các bị cáo có kháng cáo. Đối với các bị cáo khác do không có kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Bá Q, Bản án sơ thẩm: 118/2023/HS-ST ngày 01/11/2023, của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, TP . đối với bị cáo Nguyễn Bá Q có hiệu lực pháp luật.
2.Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Chí H, Đỗ Tiến D1.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 118/2023/HS-ST ngày 01/11/2023, của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, TP ..
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 54, Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Đỗ Chí H.
Xử phạt Đỗ Chí H 21 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/8/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54, Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Đỗ Tiến D1.
Xử phạt Đỗ Tiến D1 19 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/8/2023.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136, Điều 331, Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Đương sự. - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Công an huyện T; - TAND thành phố Hà Nội; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Thủy |