vanban.org

Bản án 122/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về con chung: Không có nên không xét.

Về án phí: Chị Quan Hứa Tú V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0015643 ngày 16/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Chị V đã nộp đủ án phí. Chị Quan Hứa Tú V và anh Phạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về con chung: Không có nên không xét.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN LONG THÀNHĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14- 8 -2024
V/v: “ Tranh chấp ly hôn ”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp

2. Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 303/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Quan Hứa Tú V, sinh năm 1994.

Địa chỉ: C A, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Anh Phạm Thành T, sinh năm 1976.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp G, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ liên lạc: 88, Lê Thị Hồng G, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Chị T, anh V vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Quan Hứu Tú V1 trình bày :

Chị và anh Phạm Thành T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào ngày 01/7/2019. Trong quá trình vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng lạnh nhạt với nhau, tình trạng mâu thuẫn kéo dài. Hai vợ chồng không còn quan tâm chia sẻ về cả đời sống tinh thần và kinh tế chung của gia đình. Anh chị đã nhiều lần tìm cách nói chuyện để hàn gắn tình cả, với mong muốn tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân nhưng chưa thể hàn gắn được với nhau. Nay nhận thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân của anh chị chỉ tồn tại về mặt pháp lý, bản thân anh chị không thể quay lại với nhau nên chị đề nghị được ly hôn với anh Phạm Thành T.

Về con chung: Không có.

Tài sản chung, nợ chung: Không có.

Chị V1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Tại đơn xin vắng mặt của bị đơn anh Phạm Thành T trình bày:

Anh T xin vắng mặt trong vụ án ly hôn tại Tòa án lý do anh không muốn gặp lại nguyên đơn chị Quan Hứa Tú V. Anh xin Tòa án xem xét xử theo quy định pháp luật. Anh T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Quan Hứu Tú V1.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng : Nguyên đơn chị Quan Hứa Tú V và anh Phạm Thành T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 217, khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị V, anh T.

2. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết : Chị Quan Hứa Tú V có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Phạm Thành T. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn”.

Về Thẩm quyền giải quyết: Anh Phạm Thành T là bị đơn trong vụ án hiện đang cư trú tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai nên Tòa án nhân dân huyện Long Thành giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Quan Hứa Tú V và anh Phạm Thành T có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 71/2019 cấp ngày 01/7/2019 nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Chị V yêu cầu xin ly hôn anh T vì mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết, hàn gắn được. Anh T không có lời khai tại Tòa án, tuy nhiên tại đơn xin vắng mặt anh T có ý kiến trình bày yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xét thấy, căn cứ vào lời khai và tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện mâu thuẫn vợ chồng của anh chị kéo dài, anh T xin vắng mặt tại Tòa án với lý do không muốn gặp lại chị V.

Anh Phạm Thành T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh T đều vắng mặt, không có ý kiến phản hồi về các nội dung theo đơn khởi kiện của nguyên đơn. Điều này xác định anh T không có thiện chí hòa giải để hàn gắn, đoàn tụ với chị V. Do anh T không tham gia tố tụng tại Tòa án, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chứng tỏ mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2014, xử cho chị Quan Hứa Tú V được ly hôn anh Phạm Thành T.

Về con chung: Không có.

Tài sản chung, nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị Quan Hứa Tú V phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. [5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử : 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Quan Hứa Tú V, xử cho chị V được ly hôn anh Phạm Thành T.

2. Về con chung: Không có nên không xét. 3. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Quan Hứa Tú V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0015643 ngày 16/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Chị V đã nộp đủ án phí.

5. Chị Quan Hứa Tú V và anh Phạm Thành T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ