- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Cường- TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2023/HS-ST Ngày: 22-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quỹ
Bà Vương Thị Minh Tân
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Nam - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thanh C; sinh năm 1979 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: 95/166 Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Xuân H và bà: Đinh Thị Hồng V; đã ly hôn vợ và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 14-7-2020 Công an phường Tr thành phố N xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền về hành vi “Đánh bạc”, ngày 30-11-2021 Công an phường C thành phố N xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa tiền sự); bị bắt tạm giam ngày 06-02-2023 đến ngày 16-02-2023 được áp dụng bảo lĩnh, ngày 13-4-2023 bị bắt tạm giam; có mặt.
- Bị hại:
1. Anh Trần Bùi Tiến Đ, sinh năm 2002 ; nơi cư trú : xóm 4, xã N huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
2. Bà Phạm Thị Th, sinh năm 1963, nơi cư trú : số 383 H, phường Tr, thành phố N, tỉnh Nam Định
3. Ông Bùi Huy Ng, sinh năm 1961, nơi cư trú: số 57 đường H, thị trấn C, huyện Tr, tỉnh Nam Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Ngọc L, sinh năm 1992 ; địa chỉ : số 75I, đường Đ, phường C, thành phố N tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh C là người không có việc làm nên thường lang thang trong bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp. C thường lợi dụng thời điểm gần sáng khi bệnh nhân và người nhà đang ngủ để đột nhập buồng bệnh trộm cắp điện thoại. Với thủ đoạn như trên, C đã thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản như sau:
Vụ thứ nhất : Khoảng 04 giờ ngày 14-01-2023, Nguyễn Thanh C một mình đi vào buồng bệnh số 05, nhà số 28 khoa Ung Bướu phát hiện chiếc điện thoại IPHONE 11 của anh Trần Bùi Tiến Đ đang cắm sạc để ở trên giường đầu tiên bên phải theo hướng từ cửa vào, không có người trông coi. Cường đi đến rút dây cắm sạc và lấy chiếc điện thoại rồi nhanh chóng tẩu thoát. Ngay sau khi phát hiện bị mất điện thoại, anh Đ đến Công an phường N thành phố N để trình báo. Khoảng 06 giờ 30 Cường đến công an phường tự thú về hành vi của mình và tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại IPHONE 11 là vật chứng trong vụ án. Cơ quan điều tra tạm cho C về để củng cố hồ sơ tài liệu giải quyết vụ việc. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 31-01-2023, tại, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận chiếc điện thoại trên có trị giá 7.600.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại cho anh Bùi Tiến Đ, anh Bùi Tiến Đ không có ý kiến gì khác.
Vụ thứ hai : Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 06-02-2023, Nguyễn Thanh C một mình đi vào buồng bệnh số 3, nhà số 17 khoa Truyền Nhiễm, phát hiện chiếc điện thoại SAMSUNG S9+ của bà Phạm Thị Th đang cắm sạc trên giường bệnh số 7, không có người trông coi. C tiến đến rút dây cắm sạc, lấy điện thoại rồi nhanh chóng sang buồng bệnh khác tìm kiếm tài sản để trộm cắp.
Đến 05 giờ cùng ngày, Nguyễn Thanh C đi vào buồng bệnh B khoa Da Liễu, phát hiện chiếc điện thoại SAMSUNG A10 của ông Bùi Huy N để trên giường bệnh số 8 không có người trông coi. Cường tiến đến lấy chiếc điện thoại rồi nhanh chóng tẩu thoát. Sau đó, C đi đến cửa hàng điện thoại Hương Sơn Mobile, địa chỉ 75i Đ phường C thành phố N tỉnh Nam Định. C nói chiếc điện thoại SAMSUNG A10 là của mình và bán cho chủ cửa hàng chị Trần Ngọc L với giá 700.000 đồng. Số tiền này C đã chi tiêu cá nhân hết, còn chiếc điện thoại SAMSUNG S9+ C mang về nhà cất giấu.
Ngay sau khi bị mất tài sản, bà Phạm Thị Th và ông Bùi Huy Ng đã trình báo Cơ quan điều tra sự việc như trên. Chị Trần Ngọc L đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại SAMSUNG A10 đã mua của C. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã bắt Nguyễn Thanh C để tạm giam. C thừa nhận hành vi như trên và giao nộp chiếc điện thoại SAMSUNG S9+ đã trộm cắp được.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 09-02-2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: Chiếc điện thoại SAMSUNG A10 trị giá: 1.050.000 đồng; chiếc điện thoại SAMSUNG S9+ trị giá 1.500.000 đồng; tổng cộng: 2.550.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại hai chiếc điện thoại cho ông Ng và bà Th, ông Ng và bà Th nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Chị Trần Ngọc L chủ cửa hàng điện thoại Hương Sơn Mobile có quan điểm yêu cầu C phải trả lại số tiền 700.000 đồng, nhưng C chưa trả lại.
Quá trình giải quyết vụ án Cơ quan điều tra đã trích xuất được hình ảnh Camera tại hiện trường khi C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 24-02-2023, tại Kết luận giám định số 314, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ các mẫu cần giám định.
Làm việc với Cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh C có dấu hiệu bị bệnh về tâm thần nên Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định. Ngày 06-4-2023, tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 85, Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và thời điểm giám định Nguyễn Thành C đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Bản Cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 04 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Nguyễn Thanh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thanh C khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thanh C theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; căn cứ Điều 584, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo phải bồi thường cho cho chị Trần Ngọc Lan số tiền 700.000 đồng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh C và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh C, lời khai của bị hại, Kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ ngày 14-01-2023, tại buồng bệnh số 05 nhà số 28 khoa Ung Bướu Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, Nguyễn Thanh C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Trần Bùi Tiến Đạt 01 chiếc điện thoại IPHONE 11 trị giá 7.600.000 đồng. Khoảng 04 giờ 30 phút đến 05 giờ ngày 06-02-2023, tại buồng bệnh số 3 nhà số 17 khoa Truyền Nhiễm Bệnh viên đa khoa tỉnh Nam Định, Nguyễn Thanh C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bà Phạm Thị Thuận 01 chiếc điện thoại SAMSUNG S9+ trị giá 1500.000 đồng và chiếm đoạt của ông Bùi Huy Ngọc 01 chiếc điện thoại SAMSUNG A10 trị giá 1.050.000 đồng tại buồng bệnh B khoa Da Liễu. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt của bị cáo là 10.150.000 đồng. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung 2017). Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội, cha bị cáo là thương binh, bị cáo sức khỏe yếu do bị bệnh động kinh; do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vấn đề dân sự: Các bị hại là anh Trần Bùi Tiến Đ, bà Phạm Thị Th, ông Bùi Huy Ng đã nhận lại tài sản và không đề nghị giải quyết vấn đề dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Ngọc L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 700.000 đồng, xét yêu cầu của chị L là phù hợp với quy định tại Điều 584, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015; do đó buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Trần Ngọc L số tiền 700.000 đồng và phải chịu lãi suất của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 584, Điều 589, Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 13-4-2023 (bị cáo được trừ thời gian tạm giam từ ngày 06-02-2023 đến ngày 16-02-2023).
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh C phải bồi thường cho cho chị Trần Ngọc Lan số tiền 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và chị Trần Ngọc Lan có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo Nguyễn Thanh C phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thanh C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại là chị Trần Thị Th, anh Trần Bùi Tiến Đ, bà Phạm Thị Th, ông Bùi Huy Ng và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Trần Ngọc L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Nguyễn Thanh C và chị Trần Ngọc L có quyền tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người TGTT; - VKSND tp. Nam Định (02 bản); - TAND tỉnh Nam Định; - Công an tp. Nam Định; - Chi cục THADS tp. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án + VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diện |