vanban.org

Bản án 122/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN VKS ND.Q. Gò Vấp; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
—————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09-02-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Duyên

Bà Phạm Thị Bích Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú - Thư ký Tòa án án nhân dân quận Gò Vấp

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Oanh - Kiểm sát viên. Ngày 09 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1356/2022/HNST ngày 04 tháng 10 năm 2022 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 505/2022/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐHPT ngày 10 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mai T, sinh năm 1982; Cư trú tại: Số X đường Quang Trung, Phường Y, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ hiện nay: Số nhà A đường Phan Huy Chú, Tổ dân phố B, phường K, thành phố Buôn Mê Thuật, tỉnh Đắk Lắk; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng N, sinh năm 1975; Cư trú tại: Số X đường số Y, Phường Z, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 24/8/2022 và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mai T trình bày: Bà và ông Nguyễn Trọng N, sinh năm 1975 đăng ký kết hôn và chung sống với nhau vào ngày 01/7/2008 tại Ủy ban nhân dân Phường 14, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống tôi và ông N có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Uyên N1, sinh ngày 23/02/2001 (đã trưởng thành). Thời gian đầu bà và ông Nguyễn Trọng N chung sống hạnh phúc nhưng sau đó cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông N phát sinh nhiều mâu thuẫn. Đến năm 2017, cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông N đã phát sinh những mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng ly thân từ năm 2017 cho đến nay, từ đó vợ chồng không còn quan tâm hay liên hệ với nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng hiện nay không còn, bà T đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông N để ổn định cuộc sống. Về con chung: Đã trưởng thành. Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Mai T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà T giữ nguyên yêu cầu đã trình bày tại đơn khởi kiện và các buổi làm việc tại Tòa án. Ông Nguyễn Trọng N vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến: 1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Qua kiểm tra việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng cũng như thời hạn gửi các văn bản tố tụng cho các đương sự và hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp nghiên cứu. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về phiên tòa sơ thẩm. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. 2. Về ý kiến việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mai T được ly hôn với ông Nguyễn Trọng N. Về con chung: Đã trưởng thành. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mai T đóng án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc bà Nguyễn Thị Mai T khởi kiện ông Nguyễn Trọng N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. [2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án quận Gò Vấp đã tống đạt các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ cho ông Nguyễn Trọng N nhưng ông N đã vắng mặt đến lần thứ hai, bà Nguyễn Thị Mai T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm a, b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt ông Nguyễn Trọng N và bà Nguyễn Thị Mai T. [3] Về các yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 120/2008 ngày 01 tháng 7 năm 2008 do Ủy ban nhân dân Phường 14, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Mai T và ông Nguyễn Trọng N là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, các biên bản ghi nhận lời khai của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mai T thì nguyên nhân bà yêu cầu ly hôn là do cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng không cùng quan điểm sống, không chia sẻ được với nhau về tương lai hạnh phúc gia đình, những mâu thuẫn trong cuộc sống kéo dài dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, bà T và ông N đã ly thân từ năm 2017 và bà T đã chuyển về thành phố Buôn Mê Thuật sinh sống đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, qua kết quả trả lời xác minh của Công an Phường 14, quận Gò Vấp và quá trình tống đạt Thừa phát lại thể hiện ông Nguyễn Trọng N vẫn sinh sống tại địa chỉ số 50, đường số 59, Phường 14, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng quá trình thụ lý vụ án theo yêu cầu ly hôn với ông N của bà T, dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn Trọng N không đến tòa làm việc dù chỉ một lần thể hiện ông không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ những phân tích trên cho thấy, cuộc sống vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Mai T và ông Nguyễn Trọng N không có hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được, hai vợ chồng không còn chung sống một thời gian dài. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Mai T là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Về con chung: Căn cứ vào giấy khai sinh số 345/2001 ngày 10/7/2001 thể hiện ông Nguyễn Trọng N và bà Nguyễn Thị Mai T có 01 con chung là chị Nguyễn Ngọc Uyên N1, sinh ngày 23/02/2001 (đã trưởng thành).

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Mai T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mai T phải nộp án phí đối

với yêu cầu ly hôn. Đối với phần phát biểu ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã phân tích đúng nội dung của vụ án và đưa ra ý kiến về việc giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 220, Khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 51, 53, 56, 57, 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án; • Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Mai T: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mai T được ly hôn với ông Nguyễn Trọng N. Giấy chứng nhận kết hôn số 120/2008 do Ủy ban nhân dân Phường 14, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01 tháng 7 năm 2008 không còn hiệu lực. Về con chung: Đã trưởng thành. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Mai T không yêu cầu giải quyết, Tòa án không xem xét. 2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị Mai T phải nộp nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0049280 ngày 04/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Bà Nguyễn Thị Mai T đã nộp đủ án phí. Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014). 3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

TÒA

Cỡ chữ