- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đinh"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị M và anh Đặng Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24-7-2023 “Xin ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hằng 2. Bà Huỳnh Kim Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồ Quế Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long: Không thuộc trường hợp tham gia phiên tòa.
Hôm nay, ngày 24 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 273/2023/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/QĐXXST- HNGĐ, ngày 23 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1988 địa chỉ: ấp Thạnh L, xã Thạnh Q, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)
2. Bị đơn: Anh Đặng Văn S, sinh năm 1988 nơi cư trú: ấp Thạnh L, xã
Thạnh Q, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/5/2023 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:
Vào đầu năm 2005 chị M và anh S quen biết nhau nên tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương nhưng anh chị chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, hòa thuận nhưng đến khoảng năm 2015 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng hay cải vã nhau dẫn đến cuộc sống hôn nhân ngày càng trầm trọng, anh chị đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay, hiện tại mỗi người có cuộc sống riêng không ai quan tâm đến ai. Chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó chị M yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M yêu cầu ly hôn với anh Đặng Văn S.
Về con chung: Có 02 con chung cháu Đặng Thị Trúc L, sinh ngày 30/4/2006 và cháu Đặng Sơn L1, sinh ngày 14/4/2007 khi ly hôn chị M đồng ý để anh S tiếp tục nuôi dưỡng, chị M không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản: Tự thỏa thuận không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
* Ý kiến trình bày của bị đơn anh S: Từ khi thụ lý vụ án đến ngày xét xử sơ thẩm bị đơn anh S hoàn toàn không có ý kiến gì gửi cho Tòa án.
* Ý kiến trình bày của cháu L và cháu L1: Nếu cha mẹ ly hôn con muốn sống chung với cha.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị M có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Hồ giải quyết ly hôn anh Đặng Văn S đăng ký nhân khẩu thường trú ấp Thạnh L, xã Thạnh Q, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, được triệu tập hợp lệ dự phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, triệu tập tham dự phiên tòa sơ thẩm cho bị đơn anh Đặng Văn S đúng theo quy định của pháp luật nhưng anh S hoàn toàn không có ý kiến gì gửi cho Tòa án, cũng như tại phiên tòa hôm nay vắng mặt anh S. Do đó, căn cứ Khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đặng Văn S.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Đặng Văn S chung sống với nhau như vợ chồng năm 2005 không có đăng ký kết hôn. Do đó, về hôn nhân chị M, anh S đã vi phạm vào Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho nên giữa Chị Nguyễn Thị M và anh Đặng Văn S không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Về con chung: Cháu Đặng Thị Trúc L, sinh ngày 30/4/2006 và cháu Đặng Sơn L1, sinh ngày 14/4/2007. Hiện cháu Ly và cháu Lý do anh S đang nuôi dưỡng. Tại phiên tòa chị M tự nguyện đồng ý để anh S tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung, chị M không cấp dưỡng nuôi con. Vấn đề giao cháu L và cháu L1 cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng là sự tự nguyện của chị M và phù hợp với nguyện vọng của cháu L và cháu L1 là tiếp tục được sống với cha, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con, chị M có ý kiến chị không phải cấp dưỡng nuôi con và anh S không có ý kiến phản bác về vấn đề chị M không cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử chấp nhận chị M không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị M không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị M phải nộp số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 14 và Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị M và anh Đặng Văn S.
2. Về nuôi dưỡng con chung: Giao cháu Đặng Thị Trúc L, sinh ngày 30/4/2006 và cháu Đặng Sơn L1, sinh ngày 14/4/2007 cho anh Đặng Văn S nuôi dưỡng.
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
4. Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị M không tranh chấp không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5. Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị M phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo lai thu số 0005049 ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ. Vậy chị Nguyễn Thị M đã nộp đủ không phải nộp thêm.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7. Án xử công khai nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND. Tỉnh Vĩnh Long 01; - VKSND.H Long Hồ 01; - Chi cục THADS.H Long Hồ 01; - UBND xã Thạnh Quới; - Các đương sự 02; - Lưu hồ sơ 01. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Diễm |