- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Minh H - Phạm Hoàng T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Minh H được ly hôn với anh Phạm Hoàng T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/3/2023 V/v tranh chấp: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc An.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Công Minh.
3. Ông Phan Văn Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Duy Mạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền, Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 489/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2022 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khu phố C2, thị trấn VL, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang. Địa chỉ liên lạc: Số 70/4, TN, phường 6, thành phố VT, tỉnh BT-VT. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Phạm Hoàng T, sinh năm 1989. Địa chỉ: Khu phố C2, thị trấn VL, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh H trình bày:
Chị và anh T sống chung và kết hôn năm 2013, có đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân thị trấn VL, huyện GCĐ. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2012 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T ăn chơi cờ bạc, không lo cho vợ con, sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Vợ chồng không có hàn gắn trao đổi tình cảm, hiện tại không còn sống chung, không còn liên lạc với nhau. Nay không còn tình cảm với anh T nên chị H yêu cầu ly hôn với anh T.
- Về con chung: Có 02 người con tên Phạm Hoàng M, sinh ngày 22/6/2015 và Phạm Hoàng M L, sinh ngày 22/3/2018. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con chung tên Phạm Hoàng M L, yêu cầu anh T nuôi con chung tên Phạm Hoàng M, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn anh Phạm Hoàng T trình bày:
Anh thống nhất lời trình bày của chị H về quá trình hôn nhân cũng như về con chung. Về nguyên nhân mâu thuẫn anh thừa nhận có chơi cờ bạc nhưng đã bỏ từ trước Tết 2023, hiện nay anh không còn chơi cờ bạc nữa, không còn thiếu nợ ai nữa. Nay anh vẫn còn thương vợ, thương con nên không đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị Minh H.
- Về con chung: Có 02 người con tên Phạm Hoàng M, sinh ngày 22/6/2015 và Phạm Hoàng M L, sinh ngày 22/3/2018. Sau khi ly hôn, anh không có ý kiến gì về con chung, không biết giải quyết con chung như thế nào.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, xác minh thu thập chứng cứ, thụ lý vụ án và tuân thủ đúng thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại các Điều 26 đến Điều 40; Điều 68; Điều 93 đến Điều 97; Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, thành phần Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng thực hiện theo đúng quy định tại các điều 70, 71, 72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự và không có kiến nghị gì.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Minh H, cho chị Nguyễn Thị Minh H được ly hôn với anh Phạm Hoàng T, giao con chung tên Phạm Hoàng M L cho chị H nuôi dưỡng, giao con chung tên Phạm Hoàng Long cho anh T nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con do không ai yêu cầu; tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết; chị H phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh H có đơn xin vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Phạm Hoàng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Minh H và anh Phạm Hoàng T kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn VL, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 41/2014, quyển số 01/2014 ngày 21/4/2014, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Chị Nguyễn Thị Minh H cho rằng quá trình sống chung hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh nguyên nhân mâu thuẫn do anh T ăn chơi cờ bạc, không lo cho vợ con, sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay không còn tình cảm với anh T nên chị H xin ly hôn với anh T.
Bị đơn anh Phạm Hoàng T vắng mặt tại các phiên tòa nhưng tại biên bản H giải anh có trình bày: Anh thống nhất lời trình bày của chị H về quá trình hôn nhân cũng như về con chung. Về nguyên nhân mâu thuẫn anh thừa nhận có chơi cờ bạc nhưng đã bỏ từ trước Tết 2023, hiện nay anh không còn chơi cờ bạc nữa, không còn thiếu nợ ai nữa. Nay anh vẫn còn thương vợ, thương con nên không đồng ý nên không đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị Minh H. Do không đồng ý ly hôn nên anh không biết giải quyết con cái như thế nào.
Xét, chị Nguyễn Thị Minh H và anh Phạm Hoàng T thường hay xảy ra mâu thuẫn về tiền bạc cũng như cuộc sống, không có tiếng nói chung; anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; giữa chị Nguyễn Thị Minh H và anh Phạm Minh T không còn sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chị Nguyễn Thị Minh H yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Minh T là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Về con chung: Có 02 người con tên Phạm Hoàng M, sinh ngày 22/6/2015 và Phạm Hoàng M L, sinh ngày 22/3/2018. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con chung tên Phạm Hoàng M L, yêu cầu anh T nuôi con chung tên Phạm Hoàng M, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Qua trình bày của chị H thì chị H đang nuôi dưỡng cháu Long ở VT, còn anh T nuôi dưỡng cháu Minh ở GCĐ từ năm 2022 cho đến nay, Để hai cháu được chăm sóc tốt về mặt vật chất cũng như tinh thần, cuộc sống hiện tại, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Minh H, giao con chung tên Phạm Hoàng M L cho chị H nuôi dưỡng, giao con chung tên Phạm Hoàng M cho anh T nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh H không yêu cầu anh T cấp dưỡng, anh Phạm Hoàng T không có ý kiến gì về cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Minh H và anh Phạm Hoàng T trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng các điều 51, 53, 56, Luật hôn nhân và gia đình 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Minh H được ly hôn với anh Phạm Hoàng T.
- Về con chung: Giao con chung tên Phạm Hoàng M L, sinh ngày 23/3/2018 cho chị Nguyễn Thị Minh H nuôi dưỡng, giao con chung tên Phạm Hoàng M, sinh ngày 22/6/2015 cho anh Phạm Hoàng T nuôi dưỡng.
Chị Nguyễn Thị Minh H và anh Phạm Hoàng T không ai phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có;
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0028305 ngày 21/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang, nên xem như đã nộp xong án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Viện kiểm sát ND huyện GCĐ; - Chi cục THADS huyện GCĐ; - UBND thịtrấnVL, huyện GCĐ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc An |