- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HU ỆN V NG I M TỈNH VĨNH ONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2023/DSST Ngày: 23- 10 - 2023. “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HU ỆN V NG I M, TỈNH VĨNH ONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Vui.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Văn Hồng.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Ngọc Châu – Thư ký T a án nhân dân huy n V ng L êm, t nh V nh Long.
- i di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n V ng iêm tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Nghĩa – K ểm sát v ên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2023, tạ trụ sở T a án nhân dân huy n V ng L êm xét xử sơ thẩm công kha vụ án dân sự thụ lý số: 61/2022/TLST - DS ngày 31 tháng 3 năm 2022 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2023/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 9 năm 2023 và Quyết định tạm ngừng ph ên t a số 267/2023/QĐST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023, g ữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Ngô Văn M, s nh năm 1960 (có mặt).
2. Bà Dƣơng Thị H, s nh năm 1963 (có mặt).
Cùng địa ch : ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long.
Ngườ đạ d n theo uỷ quyền của ông Ngô Văn M và bà Dương Thị H là anh ê Tấn P, s nh năm 1976 (có mặt).
Địa ch : ấp T, xã C, huy n M, t nh V nh Long.
Tạm trú: số F, đường C, khóm D, thị trấn C, huy n M, t nh V nh Long.
- Bị đơn:
1. Chị Ngô Thị T, s nh năm 1985 (vắng mặt).
Địa ch : ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long.
2. Anh Nguyễn ý Chí T1, s nh năm 1986 (có mặt).
Địa ch : ấp T, xã H, huy n V, t nh V nh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Văn , s nh năm 1995 (có mặt).
Địa ch : ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* T i đơn khởi ki n ngày 14/3/2022 và đơn khởi ki n bổ sung ngày 08/9/2023 các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và t i phiên tòa nguyên đơn ông Ngô Văn M và bà Dương Thị H do anh ê Tấn P làm đ i di n trình bày:
Trước đây vợ chồng ông M và bà H có vay t ền của Ngân hàng Thương mạ Cổ phần L2 (L3) - Ch nhánh V số t ền là 500.000.000đồng (Năm trăm tr u đồng). Sau kh vay, ông bà không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng L2 nên nhờ con ruột là Ngô Thị T vay Ngân hàng L2 200.000.000đồng (Ha trăm tr u đồng) do T c n nợ ngân hàng 100.000.000đồng nên T vay 300.000.000đồng (Ba trăm tr u đồng). Số t ền vay 200.000.000đồng (Ha trăm tr u đồng) ông bà trả khoản nợ 500.000.000đồng mà vợ chồng ông vay của Ngân hàng L2 nên số t ền gốc c n lạ là 300.000.000đồng (Ba trăm tr u đồng). Ông bà không có khả năng trả nợ cho ngân hàng nên bị nợ xấu không thể vay được. Vì vậy, ông bà thỏa thuận vớ chị T là nhờ chị T đứng tên g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 41, tờ bản đồ số 19, d n tích 8.694,6m2, mục đích sử dụng: cây lâu năm, tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long vớ hình thức là tặng cho để chị T đứng ra vay t ền dùm ông bà. Ngày 02/8/2019 chị T được Sở Tà nguyên và Mô trường t nh V cấp g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 067696. Tuy chị T là ngườ đứng tên g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông M1 và bà H là ngườ trực t ếp quản lý, sử dụng. Theo thỏa thuận, chị T thế chấp g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 067696 tạ Ngân hàng N (A) Ch nhánh V - Ph ng G vay số t ền 700.000.000đồng (Bảy trăm tr u đồng). Sau kh vay số t ền 700.000.000đồng ông M1 và bà H dùng số t ền này trả cho Ngân hàng L2 số t ền gốc và lã là 360.000.000đồng (Ba trăm sáu mươ tr u đồng) số t ền c n lạ là 340.000.000đồng (Ba trăm sáu mươ tr u đồng) ông bà đưa cho chị T trả phần vay của T tạ Ngân hàng L2 là 300.000.000đồng (Ba trăm tr u đồng).
Đến năm 2020 ông M1 và bà H thỏa thuận chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn D Em và bà Trương Thị H1 d n tích 4.132,2m2 đất trồng cây lâu năm vớ g á 300.000.000đồng/1.000m2. Tổng số t ền chuyển nhượng là 1.239.660.000đồng (Một tỷ ha trăm ba mươ chín tr u sáu trăm sáu mươ nghìn đồng). Sau đó, ông bà cùng vợ chồng ông D ng E, bà H1 đến Ngân hàng thanh toán số t ền gốc và lã tất toán nợ ngân hàng nhận g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất về làm thủ tục tách thửa. Số t ền c n lạ ông D ng E thanh toán cho ông M1 và bà T có con ruột của ông bà là Ngô Văn L và Ngô Thị T chứng k ến.
Kh ông M1 và bà H yêu cầu chị T ký tên tách thửa để lập hợp đồng chuyển nhượng cho bà Trương Thị H1 d n tích 4.132,2m2 và chuyển phần d n tích 4.562,7m2 c n lạ cho ông bà thì T ra đ ều k n là ông bà phả đưa cho T số t ền 200.000.000đồng (Ha trăm tr u đồng) thì chị T mớ đồng ý ký tên. Trước đó, T có mượn Ngô Văn L số t ền 35.000.000đồng (Ba mươ lăm tr u đồng) nên ông bà đưa cho chị T thêm số t ền 165.000.000đồng (Một trăm sáu mươ lăm tr u đồng) có sự chứng k ến của ông D ng E.
Đến tháng 11/2020 thì thửa 41 được tách thành 02 thửa: Thửa 318, tờ bản đồ số 19, d n tích 4.132,2m2, mục đích sử dụng: cây lâu năm, tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long đã chuyển nhượng cho bà Trương Thị H1 đứng tên. R êng thửa 319, tờ bản đồ số 19, d n tích 4.562,7m2, mục đích sử dụng: cây lâu năm, tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long do Ngô Thị T đứng tên.
Ngày 02/12/2020 chị T v ết “G ấy cam kết” có sự chứng k ến của ông D Em là sẽ chuyển trả lạ phần đất c n lạ (thửa 319) cho ông M1 và bà T nhưng đến nay chị T vẫn không thực h n như thỏa thuận.
Đầu tháng 03/2022 ông M1 và bà H phát h n chị T đã chuyển nhượng thửa 319 cho anh Nguyễn Lý Chí T1 mà không có sự đồng ý của ông bà làm ảnh hưởng trực t ếp đến quyền và lợ ích hợp pháp của ông bà.
Vì vậy, nay ông M1 và bà H yêu cầu T a án xem xét g ả quyết:
- Tuyên vô h u hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất g ữa chị Ngô Thị T và anh Nguyễn Lý Chí T1 đố vớ thửa đất số 319, tờ bản đồ số 19, d n tích 4.562,7m2, mục đích sử dụng: cây lâu năm, tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long. Hậu quả của v c vô h u hợp đồng do chị T và anh T1 tự g ả quyết.
- Công nhận quyền sử dụng đất cho ông bà đố vớ thửa đất số 319, tờ bản đồ số 19, d n tích 4.562,7m2, mục đích sử dụng: cây lâu năm, tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long.
- Hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vớ thửa đất số 41, tờ bản đồ số 19, d n tích 8.694,6m2 , loạ đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long g ữa bà Dương Thị H và chị Ngô Thị T.
* Trong quá trình g ả quyết vụ án ông M1, bà H trình bày theo b ên bản định g á ngày 08/5/2023 có gh nhận phần tà sản nhà của anh Phẩm Văn C và chị Ngô Thị D1. Phần tà sản nhà và vật k ến trúc do anh C, chị D1 ở là do ông M1, bà H xây dựng cho anh C, chị D1 ở, không phả là tà sản của anh C, chị D1.
- Tạ ph ên t a chị D1 trình bày thừa nhận phần nhà và vật k ến trúc h n do chị D1 và anh C sử dụng là tà sản của ông M1, bà H. Chị D1 xác định không phả là tà sản của chị D1, anh C, chị D1 không tranh chấp.
- Anh C được T a án tr u tập tham dự ph ên t a nhưng cả 02 lần anh C đều có đơn x n vắng mặt, anh C b ết rõ v c tranh chấp g ữa bà H và chị T.
* T i bảng khai ý kiến và trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn anh Nguyễn ý Chí T1 trình bày: Vào ngày 02/11/2020 anh T1 có mua của chị Ngô Thị T phần đất tạ thửa 319, tờ bản đồ số 19, d n tích 4.562,7m2, mục đích sử dụng: cây lâu năm, tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long, tô mua vớ g á 1.000.000.000đ, anh đã trả t ền cho chị T 700.000.000đ c n lạ 300.000.000đ anh T1 thỏa thuận vớ chị T đến tháng 9/2022 sẽ trả đủ 300.000.000đ cho chị T. Khi mua đất anh và chị T có đến tạ phần đất nhưng không có kêu tứ cận xác định ranh, c ng không có yêu cầu đo đạc lạ , anh ch mua theo đúng d n tích trong g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chị T. Kh đến tạ phần đất anh T1 thấy có căn nhà và có trạ ghe nhưng không có a ở nên anh T1 đồng ý mua, anh ch mua đất chứ không có mua nhà. Kh anh T1 nhận chuyển nhượng thì trên đất có trồng bưở nhưng từ kh mua đến nay anh đ làm tạ Trà V nh nên không có đến phần đất tạ thửa 319, tờ bản đồ số 19, d n tích 4.562,7m2 và c ng không có thu hoạch huê lợ trên phần đất thửa 319.
Khi mua anh T1 và chị T có thỏa thuận m ng là để cho g a đình chị T quản lý, canh tác phần đất tạ thửa 319 khoảng 02 năm.
Nếu trường hợp T a án tuyên vô h u hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất g ữa chị Ngô Thị T và anh Nguyễn Lý Chí T1 đố vớ thửa đất số 319, tờ bản đồ số 19, d n tích 4.562,7m2, mục đích sử dụng: Cây lâu năm, tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long thì anh T1 yêu cầu chị T trả lạ t ền cho anh.
H n nay anh T1 đã được cấp g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có thế chấp g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng, c ng không có chuyển nhượng sang tên cho a .
Tạ ph ên t a anh Nguyễn Lý Chí T1 xuất trình Hợp đồng ủy quyền ngày 09/6/2022 (bản photo) nộ dung anh T1 ủy quyền thửa đất 319 d n tích 4.562,7m2 cho anh Nguyễn Văn H2, s nh năm 1964, địa ch thường trú F T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí M nh và tờ thỏa thuận ngày 09/6/2022 g ữa chị Lê Mã Mộng T2, s nh năm 1976, địa ch ấp P, thị trấn V, huy n V, t nh V nh Long, cùng ông Nguyễn Văn H2, s nh năm 1964, địa ch Quận A, thành phố Hồ Chí M nh vớ anh Nguyễn Lý Chí T1 nộ dung thỏa thuận anh T1 ủy quyền phần đất thửa 319 d n tích 4562,7m2 tờ bản đồ số 19 cho ông H2 để vay vốn ngân hàng N1, không được thế chấp tà sản ra bên ngoà . Anh T1 c n cung cấp một b ên nhận ngày 09/6/2022 do chị Lê Mã Mộng T2 v ết nộ dung có mượn của anh T1 số t ền là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) trong phần g ấy thế chấp nhờ T1 đứng tên. Đến ngày trả t ền cho T1 thì T1 ký chuyển nhượng lạ G ấy chứng nhận quyền sử dụng đất lạ cho chị T mà anh T1 đã đứng tên dùm. Anh T1 c n cung cấp thêm tờ tạm ứng gh từ ngày 12 đến ngày 30/02/2022 nộ dung chị Ngô Thị T có tạm ứng của anh Nguyễn Lý Chí T1 số t ền 100.000.000 đồng (một trăm tr u đồng).
Tạ ph ên t a anh T1 thừa nhận đứng tên dùm chị T phần đất thửa 319 d n tích 4562,7m2 chị T hứa kh nào vay được t ền ngân hàng thì chị T cho anh T1 300.000.000 đồng, anh T1 có cho chị T mượn 100.000.000 đồng. Anh T1 xác định lờ trình bày tạ ph ên t a là đúng, c n các lờ trình bày trước đây là không đúng. Anh T1 đồng ý vô h u Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất g ữa anh vớ chị T, đồng ý trả lạ đất cho ông M1, bà H, anh T1 cho rằng anh bị chị T và chị Mộng T2 lừa.
Hậu quả của v c vô h u hợp đồng anh tự g ả quyết. Tuy nh ên, đến phần hỏ của đạ d n V n k ểm sát anh T1 yêu cầu đưa ông H2 và chị Mộng T2 vào tham g a tố tụng.
* T i bảng khai ý kiến và trong quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ngô Văn trình bày:
Anh L thống nhất theo yêu cầu của cha mẹ anh là ông Ngô Văn M và bà Dương Thị H do anh P làm đạ d n. Đố vớ số t ền 35.000.000đ anh L đã cho chị T mượn thì anh L không yêu cầu chị T trả.
* Kiểm sát viên đ i di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n V ng iêm có ý kiến là:
Căn cứ vào tà l u chứng cứ có được trong hồ sơ vụ án, các tà l u chứng cứ được Hộ đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận tạ ph ên t a, nhận thấy:
- Tạ b ên bản định g á tà sản ngày 08/5/2023 thể h n trên phần đất tranh chấp có nhà của anh Phẩm Văn C và chị Ngô Thị D1, nhưng hồ sơ không không thể h n bảng kha ý k ến của anh C và chị D1, không tham g a trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử nên không có ý k ến trình bày. T a án không đưa anh C và chị D1 vào tham g a vớ tư cách là ngườ có quyền lợ , ngh a vụ l ên quan. Tạ ph ên t a có mặt chị D1, chị D1 trình bày căn nhà là do cha chị là ông M1 xây dựng cho vợ chồng chị ở, chị không có tranh chấp gì, tuy nh ên anh C vắng mặt và chưa có ký k ến trình bày đố vớ nộ dung vụ án. Do đó, cần phả đưa anh Phẩm Văn C vào tham g a tố tụng để đảm bảo quyền và lợ ích hợp pháp của anh C.
- Ngày 08/9/2023 nguyên đơn có đơn khở k n yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đố vớ thửa 41 và yêu cầu vô h u hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đố vớ thửa 319. Tuy nh ên chưa có ý k ến của cơ quan chuyên môn về trình tự thủ tục cấp g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất đố vớ ha thửa đất trên.
- Hồ sơ vụ án không thể h n v c chị T có vay của ngân hàng G1, đồng thờ c ng không thể h n ông M1 và bà H có nợ xấu nên không thể t ếp tục vay, nên cần phả bổ sung thêm tà l u chứng cứ để có cơ sở g ả quyết vụ án.
- Đố vớ lờ trình bày của anh T1 tạ ph ên t a nhận thấy: C1 đưa chị Lê Mã Mộng T2 và anh Nguyễn Văn H2 vào tham g a tố tụng để g ả quyết toàn bộ nộ dung vụ án vì h n tạ anh H2 đang g ữ g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 319.
Từ những nộ dung trên V n k ểm sát không phát b ểu quan đ ểm g ả quyết vụ án tạ ph ên t a sơ thẩm g ả quyết vụ án dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra t i phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Ngô Văn M2 và bà Dương Thị H có đơn khở k n yêu cầu T a án nhân dân huy n V ng L êm, t nh V nh Long g ả quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vớ chị Ngô Thị T và anh Nguyễn Lý Chí T1. Căn cứ quy định tạ khoản 1 Đ ều 35; khoản 1 Đ ều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền g ả quyết của T a án nhân dân huy n V ng L êm.
. Bị đơn chị Ngô Thị T đã được T a án tr u tập tham g a ph ên t a xét xử sơ thẩm hợp l lần thứ ha nhưng vẫn vắng mặt không vì sự k n bất khả kháng hoặc trở ngạ khách quan. Chị Ngô Thị T b ết rõ v c ông M2, bà H khở k n chị tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tạ thửa đất 319, trong quá trình tố tụng tạ T a án chị T đều nhận được g ấy tr u tập chị tham g a tố tụng nhưng chị T không chấp hành, không hợp tác, không có văn bản trình bày ý k ến gì đố vớ yêu cầu khở k n của nguyên đơn. Không tham g a các ph ên h a g ả c ng như ph ên t a sơ thẩm, chị T ch có ý k ến duy nhất chị T gh trong b ên bản g ao g ấy tr u tập nộ dung “Tô Ngô Thị T yêu cầu bà Dương Thị Hồng v của ông Ngô Văn M2 trả lạ sổ hồng cho Lê Chí L1 chồng của bà Ngô Thị T nếu không g ả quyết được thì đừng làm ph ền nữa”.
Về nộ dung vụ án:
- Ông Ngô Văn M và bà Dương Thị H làm đơn khởi ki n yêu cầu T a án g ải quyết tuyên vô h u hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất g ữa chị Ngô Thị T và anh Nguyễn Lý Chí T1 đố vớ thửa đất số 319, tờ bản đồ số 19, d n tích 4.562,7m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long. Hậu quả của v c vô h u hợp đồng do chị T và anh T1 tự g ả quyết.
- Công nhận quyền sử dụng đất cho ông bà đố vớ thửa đất số 319, tờ bản đồ số 19, d n tích 4.562,7m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long.
- Hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đố vớ thửa đất số 41, tờ bản đồ số 19, d n tích 4562,7m2 , loạ đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long g ữa bà Dương Thị H và chị Ngô Thị T.
. Xét yêu cầu khở k n của ông Ngô Văn M2, bà Dương Thị H yêu cầu T a án g ả quyết hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 18/7/2019, bên tặng cho là Dương Thị H, bên nhận tặng cho là chị Ngô Thị T, tà sản tặng cho là quyền sử dụng đất thửa đất số 41, tờ bản đồ số 19, d n tích 8694,9m2, đất tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long, do bà Dương Thị H đứng tên g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà H, ông M2 trình bày: ông bà vay t ền Ngân hàng mất khả năng thanh toán chuyển thành nợ xấu, để có t ền trả nợ Ngân hàng ông bà phả vay mượn từ nguồn khác để trả nợ Ngân hàng. Sau kh trả nợ Ngân hàng xong thì Ngân hàng không t ếp tục cho vay lạ , nên ông M2, bà H nhờ chị T là con gá ruột đứng tên quyền sử dụng đất thửa đất số 41, tờ bản đồ số 19, bằng hình thức lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Sau kh sang tên quyền sử dựng đất thửa đất số 41, tờ bản đồ số 19 d n tích 8694,9m2 chị T được đứng tên mặt 4 g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chị thế chấp g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạ Ngân hàng N - ch nhánh V - ph ng G để vay số t ền 700.000.000 đồng, đến hạn không có t ền trả nợ cho ngân hàng. Ông M2, bà H đã chuyển nhượng một phần d n tích đất 4.132,2m2 cho anh Nguyễn Văn D Em và chị Trương Thị H1 vợ của anh D Em, tạ thửa 41, tờ bản đồ số 19 d n tích chung là 8694,9m2, vớ g á chuyển nhượng là 1.239.660.000 đồng, anh D ng E, chị H1 mang t ền đến trả cho ngân hàng xong lấy g ấy chứng nhận lập thủ tục chuyển nhượng thửa đất 41, tờ bản đồ số 19, được tách thành 2 thửa, thửa 318 tờ bản đồ số 19 d n tích 4132,2m2 được sang tên cho chị Trương Thị H1, c n lạ thửa 319 tờ bản đồ số 19 d n tích 4562,7m2 chị T đứng tên.
Lờ trình bày của ông M2, bà H phù hợp vớ những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, ngườ làm chứng anh D Em trình bày, anh D Em nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông M2, bà T phần đất d n tích 4.132,2m2 kh nhận chuyển nhượng thì anh D ng E đứng ra trả số nợ do chị T vay tạ ngân hàng N - ch nhánh V - ph ng G số t ền 857.000.000 đồng đưa cho chị T 21.000.000 đồng đưa cho bà H 75.000.000 đồng, c n lạ số t ền 286.000.000 đồng anh D Em đưa cho chị T để làm thủ tục sang tên tách thửa cho anh D Em, phù hợp vớ g ấy cam kết của chị T (bút lục 163), nộ dung g ấy cam kết là “Tô cam đoan sau kh cha tô là ông Ngô Văm M3 trả tô số t ền 165.000.000 đồng, tô sẽ trả lạ số đất do Ngô Thị T đứng tên cho cha tô là ông Ngô Văn M2”. Nhưng sau kh nhận đủ số t ền 165.000.000 đồng chị T không trả lạ đất cho ông M2, bà H. Từ những căn cứ trên, nhận thấy v c ông M2, bà H nhờ chị T đứng tên dùm quyền sử dụng đất là có thật.
. Xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/7/2022 tạ thửa 319, tờ bản đồ số 19, d n tích 4562,7m2 g ữa chị Ngô Thị T vớ anh Nguyễn Lý Chí T1. Anh Chí T1 trình bày tạ các (bút lục 15, 76, 99) anh nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nó trên của chị T vớ g á là 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) đã trả cho chị T 700.000.000 đồng c n lạ 300.000.000đồng thỏa thuận đến tháng 9/2022 trả đủ cho chị T. Kh mua đất anh và chị T có đến tạ phần đất nhưng không có kêu tứ cận xác định ranh đất, anh thấy trên đất có căn nhà và trạ đóng ghe anh mua đất chứ không có mua nhà. Từ kh nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của chị T đến nay anh không có quản lý sử dụng đất c ng không có thu huê lợ trên đất. T a án yêu cầu anh T1 làm đơn yêu cầu độc lập số t ền 700.000.000 đồng t ền trả cho chị T (bút lục 90) nhưng anh T1 không thực h n. Theo b ên bản định g á tà sản thì nhà vật k ến trúc trên đất có g á trị là 374.964.000 đồng. Xác định là tà sản của ông M2, bà H, anh T1 thừa nhận không có mua. Đồng thờ anh T1 c ng khẳng định và cam kết g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 319, tờ bản đồ số 19 d n tích 4562,7m2 do anh cất g ữ không có thế chấp Ngân hàng, không có chuyển nhượng cho ngườ khác.
Tạ ph ên t a ngày 23/10/2023 anh Chí T1 xuất trình các văn bản như “Tờ thỏa thuận của chị Lê Mã Mộng T2, b ên nhận của chị Lê Mã Mộng T2, b ên nhận tạm ứng của chị Ngô Thị T”. Tạ phần thủ tục xét hỏ của Hộ đồng xét xử anh Chí T1 thừa nhận phần đất tạ thửa 319 tờ bản đồ số 19, d n tích 4562,7m2 tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long là do anh đứng tên dùm chị T, chị T nhờ anh đứng tên và hứa kh vay được t ền của ngân hàng thì chị T sẽ cho anh T1 300.000.000 đồng, anh T1 không có trả cho chị T 700.000.000 đồng như những lần anh trình bày trong các b ên bản h a g ả , anh T1 ch tạm ứng cho chị T số t ền 100.000.000 đồng chị T có làm tờ tạm ứng ngày 30/2/2022, tạ b ên nhận ngày 09/6/2022 của chị Lê Mã Mông T3 gh “ Tô có mượn t ền của anh T1 số t ền 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) trong phần g ấy thế chấp nhờ T1 đứng tên, đến ngày tô trả lạ T1 số t ền trên T1 phả ký chuyển nhượng lạ g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất lạ cho bà T mà T1 đã đứng tên dùm”, đồng thờ anh T1 trình bày các g ao dịch g ữa anh T1 vớ chị T, anh H2 tự anh T1 g ả quyết.
Phần hỏ của k ểm sát v ên, anh T1 có yêu cầu đưa chị T3 và ông H2 vào tham g a tố tụng để đảm bảo quyền lợ của anh T1, yêu cầu này của anh T1 không được Hộ đồng xét xử chấp nhận. Anh T1, chị T, chị Mộng T2 và ông H2 có quyền khở k n một vụ án khác kh có yêu cầu.
. Từ những căn cứ trên Hộ đồng xét xử xét thấy có cơ sở để xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất g ữa anh Nguyễn Lý Chí T1 và chị Ngô Thị T ký ngày 08/2/2022 là hợp đồng g ả cách không có thật, nên hợp đồng này vô h u là phù hợp vớ quy định của pháp luật theo quy định tạ Đ ều 124 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Do đó, Hộ đồng xét xử xét thấy yêu cầu của ông Ngô Văn M2 và bà Dương Thị H là có đủ cơ sở để Hộ đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khở k n của ông Ngô Văn M2 và bà Dương Thị H.
- Về hậu quả của v c tuyên bố hợp đồng vô h u: Các đương sự không yêu cầu nên Hộ đồng xét xử không xem xét g ả quyết.
. Xét quan đ ểm của đạ d n V n k ểm sát nhân dân huy n V ng L êm:
- Theo kết quả đo đạc và định g á tà sản tạ phần đất tranh chấp thể h n có căn nhà của chị Ngô Thị D1 và anh Phẩm Văn C đang s nh sống có g á trị 47.665.000 đồng (bút lục 86), được ông Ngô Văn M2, bà Dương Thị H chị Ngô Thị D1 và anh Phẩm Văn C xác định đây là tà sản của ông M2, bà H cất cho con là chị D1 và chồng của chị D1 là anh C ở, vì anh C là thợ sửa chữa tàu ghe cùng vớ ông M2. T a án có tr u tập anh C, chị D1 tham g a ph ên t a nhưng anh C có đơn x n vắng mặt, chị D1 có mặt tạ ph ên t a, chị D1 thừa nhận căn nhà chị ở là của ông M2, bà H cất cho vợ chồng chị ở, nếu T a án xử không chấp nhận yêu cầu của ông M2, bà H thì chị D1, anh C không tranh chấp gì tà sản là căn nhà mà anh chị đang ở.
- Trong hồ sơ chưa có hồ sơ thể h n bà H, ông M2 nợ xấu ngân hàng. Theo ông M2 trình bày nợ xấu ông đã vay mượn bên ngoà đã trả xong cho ngân hàng nên không thể h n.
- Đố vớ thửa đất số 41 tách ra làm 2 thửa: Tạ công văn số 974/PTNMT ngày 02/10/2023 của Ph ng T4 đã thể h n rõ vào năm 2020, thửa 41 tách ra thành 02 thửa và được cấp mớ g ấy chứng nhậnlà thửa 318, tờ bản đồ số 19, d n tích 4.132,2m2, mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, được cấp g ấy chứng nhận cho bà Trương Thị H1 và thửa 319, tờ bản đồ số 19, d n tích 4.562,7m2, mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, được cấp g ấy chứng nhận cho bà Ngô Thị T.
- Tạ ph ên t a anh T1 xuất trình g ấy thỏa thuận g ữa bà Lê Mã Mộng T2, ông Nguyễn Văn H2 vớ anh Chí T1 đố vớ phần đất tạ thửa đất 319 d n tích 4562,7m2 nộ dung không thể h n anh Chí T1 có nhận khoản t ền nào của ông H2. Đố vớ văn bản chị Mộng T2 nhận của anh Chí T1 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) tạ ph ên t a anh Chí T1 không yêu cầu gì, tự anh Chí T1 vớ chị T2 g ả quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Lý Chí T1 tham g a đầy đủ trong quá trình tố tụng tạ T a án, qua những lần h a g ả tạ T a án (bút lục 15, 76, 99) anh Nguyễn Lý Chí T1 đều khẳng định g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 319 tờ bản đồ số 19 d n tích 4562,7m2 là do anh cất g ữ, anh cam kết không thế chấp g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng, c ng không chuyển nhượng cho a . Tạ ph ên t a ngày 23/10/2023 anh Nguyễn Lý Chí T1 xuất trình tờ thỏa thuận ngày 09/6/2022, b ên nhận nhận t ền ngày 09/6/2022, tờ tạm ứng ngày 12 đến ngày 30/2/2022, Hợp đồng ủy quyền ngày 09/6/2022, tất cả là bản phô tô.
Tạ phần thủ tục xét hỏ của Hộ đồng xét xử anh T1 xác định các g ao dịch g ữa anh T1 vớ chị T, anh T1 vớ chị Lê Mã Mộng T2, anh T1 vớ anh Nguyễn Văn H2, tự anh T1 g ả quyết. Phần thủ tục xét hỏ của k ểm sát v ên tham g a ph ên t a thì anh T1 yêu cầu đưa anh H2, chị T2 vào tham g a tố tụng và đề nghị hoãn ph ên t a, v c yêu cầu của anh T1 là không phù hợp vớ quy định của pháp luật tố tụng và kéo dà thờ g an g ả quyết vụ án. Quyền lợ của anh T1, anh H2, chị T2 bị th t hạ nếu có, thì các đương sự có quyền khở k n để bảo v quyền và lợ ích hợp pháp của mình trong vụ án khác kh có yêu cầu.
Từ những căn cứ trên, Hộ đồng xét xử nhận thấy đề nghị của K ểm sát v ên tham g a ph ên t a là không phù hợp vớ nhận định của Hộ đồng xét xử, nên không được chấp nhận.
Ch phí khảo sát, đo đạc và định g á tà sản là là 3.696.000đ (ba tr u sáu trăm chín mươ sáu nghìn đồng) chị Ngô Thị T và anh Nguyễn Lý Chí T1 mỗ ngườ phả nộp 1.848.000 (một tr u tám trăm bốn mươ tám nghìn đồng) để hoàn trả lạ cho ông Ngô Văn M2 do ông M2 đã nộp tạm ứng trước.
Án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Lý Chí T1 và chị Ngô Thị T mỗ ngườ phả nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có g á ngạch.
Ông Ngô Văn M2 và bà Dương Thị H không phả chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QU ẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Đ ều 35; khoản 1 Đ ều 39; Đ ều 147; Đ ều 165; Đ ều 227; Đ ều 235; Đ ều 266; Đ ều 271; Đ ều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Đ ều 117; Đ ều 122; Đ ều 124; Đ ều 457; Đ ều 459 của Bộ luật dân sự năm 2015; Đ ều 100; khoản 1 Đ ều 166; Đ ều 167 và khoản 1 Đ ều 203 của Luật đất đa năm 2013; Đ ều 2 của Luật ngườ cao tuổ ; Đ ều 3, đ ểm đ khoản 1 Đ ều 12, Đ ều 26, Đ ều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, m ễn, g ảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí T a án.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khở k n của nguyên đơn ông Ngô Văn M2 và bà Dương Thị H.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất g ữa chị Ngô Thị T vớ anh Nguyễn Lý Chí T1, số công chứng 00374, quyển số 01/2022 TP/CC – SCC/HĐGD ngày 08/02/2022, tạ Văn ph ng C2 đố vớ thửa đất số 319, tờ bản đồ số 19, d n tích 4.562,7m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm, do chị Ngô Thị T đứng tên g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tà sản khác gắn l ền vớ đất, tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long là vô h u.
Hậu quả của v c vô h u hợp đồng do chị Ngô Thị T và anh Nguyễn Lý Chí T1 không yêu cầu, nên không xem xét. Các đương sự có quyền khở k n một vụ án khác kh có yêu cầu.
- Công nhận phần đất tạ thửa số 319, tờ bản đồ số 19, d n tích 4.562,7m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Ngô Văn M2 và bà Dương Thị H.
- Hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất g ữa bà Dương Thị H vớ chị Ngô Thị T, số chứng thực 216, quyển số 01/2019 – SCT/HĐ,GD ngày 18/7/2019, tạ Ủy ban nhân dân xã T, huy n V, t nh V nh Long đố vớ thửa đất số 41, tờ bản đồ số 19, d n tích 4562,7m2 , mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tạ ấp T, xã T, huy n V, t nh V nh Long g ữa bà Dương Thị H vớ chị Ngô Thị T. Ông Ngô Văn M2, bà Dương Thị H có trách nh m đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kê kha quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. (Vị trí, kích thước, g áp cận của phần đất theo kết quả đo đạc h n trạng khu đất của Ch nhánh Văn ph ng đăng ký đất đa huy n V ngày 18/7/2023 kèm theo bản án).
2. Ch phí khảo sát, đo đạc và định g á tà sản là 3.696.000đ (ba tr u sáu trăm chín mươ sáu nghìn đồng) chị Ngô Thị T phả nộp 1.848.000 (một tr u tám trăm bốn mươ tám nghìn đồng) và anh Nguyễn Lý Chí T1 phả nộp 1.848.000 (một tr u tám trăm bốn mươ tám nghìn đồng) để hoàn trả lạ cho ông Ngô Văn M2 do ông M2 đã nộp tạm ứng trước.
3. Án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Lý Chí T1 phả nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) và chị Ngô Thị T phả nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Ngô Văn M2 và bà Dương Thị H không phả chịu án phí.
Trường hợp bản án được th hành theo quy định tạ Đ ều 2 Luật Th hành án dân sự thì ngườ được th hành án dân sự, ngườ phả th hành án dân sự có quyền thỏa thuận th hành án, quyền yêu cầu th hành án, tự nguy n th hành án hoặc bị cưỡng chế th hành án theo quy định tạ các Đ ều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Th hành án dân sự; thờ h u th hành án được thực h n theo quy định tạ Đ ều 30 Luật Th hành án dân sự.
Án xử công kha sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thờ hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. R êng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thờ hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được n êm yết công kha tạ địa phương để yêu cầu T a án nhân dân t nh V nh Long xét xử lạ phúc thẩm./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND t nh V nh Long; - VKSND huy n V ng L êm; - Ch cụcTHADS huy n V ng L êm; - Các đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHI N TÒA Huỳnh Văn Vui |