vanban.org

Bản án 122/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngô Văn K

Buộc bị đơn anh Phan Cường Q có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Ngô Văn K số tiền 25.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngô Văn K-Phan Cường Q"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngô Văn K
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:122/2023/DS-ST
Ngày:16-5-2023
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài
sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Thành Trại

Ông Phùng Văn Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư, Thư ký Tòa án-Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Cảnh-Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:473/2022/TLST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXX-ST ngày 07 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Ngô Văn K, sinh năm 1958 (có mặt);

Địa chỉ: G Đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở hiện nay: Số B, tổ G, ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Phan Cường Q, sinh năm 1986 (vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ A, ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Do quen biết và có kết nghĩa với nhau nên ông xem anh Phan Cường Q như người em trong nhà. Ông có cho anh Q vay mượn số tiền là 55.000.000đồng, không có lãi để anh Q mua heo và dê về nuôi. Cụ thể: ngày 19/6/2020, vay số tiền 25.000.000đồng, có biên nhận do ông viết và anh Q ký và ghi họ tên. Đến 01/12/2020 chưa trả khoản tiền 25.000.000đồng. Sau đó, có mượn thêm 7.000.000đồng vào thứ 3 ngày 8 tháng 12 năm 2020, đến ngày 9 tháng 12 năm 2020 mượn thêm 13.000.000đồng, tổng cộng 02 lần mượn sau là 20.000.000đồng. Cả 03 lần không thỏa thuận lãi, anh Q đưa bao nhiêu đưa, có khi 500.000đồng, có khi 800.000đồng mua bia về uống chung, vài tháng mới đưa 01 lần.

Lần 4 vào thứ 3 ngày 29/12/2020 mượn thêm 10.000.000đồng. Tổng kết lần 2, lần 3, lần 4 là 30.000.000đồng. Biên nhận do ông ghi và anh Q ký tên.

Hàng tháng Q có gửi cho ông tiền cà phê là 1.200.000đồng được 02 hoặc 03 lần rồi ngưng luôn.

Nay ông khởi kiện yêu cầu:

Buộc anh Phan Cường Q phải trả lại cho ông số tiền đã vay là 55.000.000đồng (Năm mươi lăm triệu đồng), không yêu cầu tính lãi. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Ngô Văn K thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn anh Phan Cường Q phải trả lại cho ông số tiền đã vay là 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), không yêu cầu tính lãi. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật, bị đơn anh Phan Cường Q dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt không lý do và không có bản tự khai nộp cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh Phan Cường Q có nghĩa vụ trả cho ông Ngô Văn K số tiền 25.000.000đồng. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Phan Cường Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt, nên căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử.

Tại phiên tòa, ông Ngô Văn K thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu anh Phan Cường Q trả số tiền vay 25.000.000đồng theo biên nhận ngày 19/6/2020, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện này không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, đương sự có quyền quyết định và tự định đoạt nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn anh Ngô Văn K khởi kiện yêu cầu bị đơn anh Phan Cường Q phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận của hợp đồng vay tài sản, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét, “Giấy mượn tiền” đề ngày 19/6/2020 âm lịch (Bút lục 18) có nội dung “Tôi tên Phan Cường Q…có mượn của anh Ngô Văn K số tiền 25.000.000đồng” anh Q có ký và ghi họ tên, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và các tài liệu chứng cứ kèm theo nhưng anh Q không có phản đối đây là những tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự nên cần buộc anh Q trả số nợ này.

Về án phí: bị đơn anh Phan Cường Q phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn Ngô Văn K được Tòa án chấp nhận. Ông Ngô Văn K thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí.

Về ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 5, Khoản 3 Điều 26, Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 463, Điều 466 và Khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí;

Xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngô Văn K

Buộc bị đơn anh Phan Cường Q có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Ngô Văn K số tiền 25.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự trên số tiền chậm thi hành án.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Phan Cường Q phải chịu 1.250.000đồng án phí.

3/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông Ngô Văn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Anh Phan Cường Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

4/ Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ