- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Phan Văn V phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122 /2022/HSST Ngày: 26 / 10 / 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nghiêm Hoài Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ngô Thị Như Hoa và ông Bùi Thanh Nhiến
Thư ký phiên toà: Ông Ninh Viết Tùng - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông
Đặng Quốc Toản - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 113/2022/HSST ngày 03 tháng 10 năm
2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng
10 năm 2022 đối với:
Bị cáo Phan Văn V; sinh năm 1984, tại Ba Vì, Hà Nội; giới tính: Nam; nơi cư
trú: thôn Ch, xã Ch, huyện B, Tp Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn
hoá: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; có bố là Phan Văn
Đ và mẹ là Nguyễn Thị Y. Chưa có vợ, con.
Có 02 tiền án: - 13/8/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 2
năm tù về tội trộm cắp tài sản.
- 13/11/2018 bị TAND huyện Kim Bôi xử phạt 2 năm tù về tội trộm cắp tài sản.
Có 01 tiền sự: Ngày 15/7/2022 bị TAND huyện Ba Vì áp dụng biện pháp đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nhân thân: - Tháng 7/2003 bị TAND huyện Ba Vì xử phạt 42 tháng tù về tộiCố
ý gây thương tích và làm nhục người khác
- Tháng 8/2003 bị TAND huyện Ba Vì xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài
sản
- Tháng 3/2009 bị TAND thành phố HB xử phạt 42 tháng tù về tội mua bán trái
phép chất ma túy.
Bị cáo đang chấp hành cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện số 7 Hà Nội.
Có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
- Chị Bùi Thị H. Sinh năm 1984. Trú tại: Xóm M, xã H, huyện K, tỉnh Hòa
Bình. Vắng mặt.
- Chị Bùi Thị Nh. Sinh năm 1970. Trú tại: Xóm Tr, xã X, huyện K, tỉnh Hòa
Bình. Vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Đinh Công Th. Sinh năm 1989. Trú
tại: Xóm Ng, xã Phú V, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do cùng là đối tượng nghiện chất ma túy nên khoảng 16 giờ ngày 01/11/2021,
Phan Văn V và Đinh Công Th bàn bạc rủ nhau đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Sau đó, V điều khiển xe mô tô BKS 28F4-6155 chở Th ngồi sau đi quanh thành phố Hòa Bình, khi đến khu vực Cung Văn hóa tỉnh Hòa Bình thấy có nhiều mô tô dựng ở đó mà không có người trông coi nên V điều khiển xe vào gần rồi dừng xe lại, đứng cảnh giới, còn Th vào lấy được 01 chiếc mũ bảo hiểm để trên xe mô tô của chị Bùi Thị H rồi V chở Th ra cổng sân vận động gửi chiếc mũ bảo hiểm cho một người đàn ông bán rau. Sau đó V tiếp tục chở Th quay lại Cung Văn hóa, bằng thủ đoạn tương tự, Th vào lấy được 01 chiếc mũ bảo hiểm để trên xe của chị Bùi Thị Nhã. Khi Th vừa lấy được chiếc mũ của chị Nhã thì bị phát hiện. Cả hai bỏ chạy, sau đó V bị bắt giữ, còn Th bỏ chạy được cho đến ngày 20/11/2021 thì đến công an trình báo sự việc.
Qúa trình điều khiển xe bỏ chạy, V đã va chạm với xe mô tô do chị Đinh Thị
Bích điều khiển và chiếc xe mô tô do chị Bùi Thị Thực điều khiển.
Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 06/01/2022 của Hội
đồng định giá tài sản thườn xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Hòa Bình kết luận: “01 chiếc mũ bảo hiểm màu nâu đất hiệu GRO HELMET đã qua sử dụng có giá 100.000 đồng; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh lá cây hiệu GRO HELMET đã qua sử dụng có giá 80.000 đồng”
Cáo trạng số 113/KSĐT ngày 28/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Hoà Bình truy tố Phan Văn V về tội Trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy
tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 1 điều 173, điểm h, s khoản 1
điều 51, điểm g khoản 1 điều 52, điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Phan Văn
V từ 06 đến 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; không ai có yêu cầu đề nghị gì về
việc bồi thường nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố
đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình
sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành
vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các
hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã
thực hiện liên quan đến hành vi của bị cáo bị truy cứu trách nhiệm trong vụ án này
đều hợp pháp.
Về hành vi bị cáo đã thực hiện:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai
của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai người làm chứng; tang vật
thu được cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu giữ do đó có đủ cơ sở xác định: Ngày
01/11/2021, Phan Văn V đã cùng Đinh Công Th lén lút chiếm đoạt 02 chiếc mũ bảo
hiểm của chị Hà và chị Nhã.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của
người khác được pháp luật bảo vệ, ngoài ra còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức được việc lén lút chiếm
đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do coi thường
pháp luật nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện, gây thiệt hại về tài sản trị giá 180.000 đồng
cho người bị hại.
Mặc dù giá trị tài sản bị cáo trộm cắp chưa đến 2.000.000 đồng nhưng bị cáo đã
có tiền án về tội chiếm đoạt do đó hành vi nêu trên cũng như nhân thân, hậu quả mà bị
cáo đã gây ra thỏa mãn dấu hiệu của tội Trộm cắp tài sản và cần bị xét xử theo điểm b
khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội gây thiệt hại không lớn.
Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng khi quyết định hình
phạt.
Bị cáo 2 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản do đó cần áp dụng tình tiết tăng
nặng phạm tội 2 lần trở lên.
Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà Bị cáo đã thực hiện cần áp dụng
hình phạt tù thỏa đáng để cải tạo, giáo dục Bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Chiếc mũ bảo hiểm của chị Bùi Thị Nhã cơ quan điều tra đã thu giữ trả cho
chủ sở hữu, không ai có đề nghị gì thêm nên Tòa không đề cập giải quyết.
- Chiếc mũ bảo hiểm của chị Bùi Thị Hà chưa thu giữ được, tuy nhiên chị Hà
không yêu cầu bồi thường nên Tòa không đề cập giải quyết.
- Chị Đinh Thị Bích và chị Bùi Thị Thực bị thiệt hại do va chạm khi bị cáo bỏ
chạy gây ra nhưng không yêu cầu bồi thường do đó Tòa không xem xét giải quyết.
- Đối với chiếc xe mô tô BKS 28F4-6155 bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm
tội không thu giữ được do đó Tòa không có căn cứ giải quyết trong vụ án này.
- Đối với Đinh Công Th là người cùng bị cáo V thực hiện hành vi trộm cắp
nhưng không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan điều tra đã xử lý hành chính, người bị hại không yêu cầu bồi thường do đó Tòa không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
* Tuyên bố: Phan Văn V phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản
1 điều 52, điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Phan Văn V 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp
hành hình phạt.
* Về án phí: Phan Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại,
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được cấp, tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HB; - Sở tư pháp tỉnh HB; - VKSND tỉnh HB; - VKSND thành phố HB; - Công an thành phố HB; - Thi hành án hình sự; - Chi cục T.H.A DS TPHB; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ Tọa phiên tòa Nghiêm Hoài Anh THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |