vanban.org

Bản án 122/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 21/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tạm giam bị cáo: Cái Bảo Duy Lâm - Sinh ngày 05 tháng 3 năm 1986 tại thành phố Đà Nẵng

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: K46/H16/9 Cao Thắng, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 03 (ba) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Cái Bảo Duy L phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Cái Bảo Duy Lâm - Sinh ngày 05 tháng 3 năm 1986 tại thành phố Đà Nẵng
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Bộ luật Hình sự
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122 /2022/HS-ST
Ngày 21/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Ngọc Kinh Luân

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Công Tâm.

2. Ông Nguyễn Xuân Tùng.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Cán bộ Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2022/TLST- HS ngày 14 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Cái Bảo Duy L (tên gọi khác: Cu nhỏ) - Sinh ngày 05 tháng 3 năm 1986 tại thành phố Đà Nẵng ; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: K46/H16/9 C. Th, phường T. B, quận H.C, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 7/12; con ông Cái S (chết) và bà Lê Thị H (sinh năm 1960, sống);

Tiền án: Bản án số 09/2009/HSST ngày 20.02.2009 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, xử phạt 15 tháng tù giam về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo khoản 1 Điều 250 BLHS năm 1999, truy thu số tiền 7.600.000 để sung công quỹ nhà nước. Lâm chưa thi hành phần dân sự nên chưa được xoá án tích. Đã áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm".

Tiền sự: Ngày 29.6.2021, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng.

Nhân thân:

Tại Bản án số 24/HSST ngày 15.6.2004 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu xử, phạt 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", theo điểm b khoản 2 Điều 138 BLHS 1999 (Lâm chưa đủ 18 tuổi nên căn cứ vào Điều 107 BLHS thì không được xem là có án tích).

Tại Bản án số 95/HSST ngày 06.10.2009 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS 1999 (Bản án này bị cáo đã nộp xong án phí nên đã xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17.8.2022, có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng:

* Người bào chữa cho bị cáo Cái Bảo Duy L Luật sư Ông Quốc Cường Công ty Luật TNHH Đ&C. Địa chỉ: 121 Lê Kim Lăng, phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng.

* Người bị hại: Ông Phan Anh K – Sinh năm 1995 – Địa chỉ: P401, Khu chung cư tập thể số 48 đường Lê Đình Dương, phường Phước Ninh, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Châu Thị Ngọc T – Sinh năm 1964 – Địa chỉ: K46/H16/24 C. T, tổ 35, phường T. B, quận H. C, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

2. Ông Võ Văn H – Sinh năm 1989 -– Địa chỉ: K46/H16/24 C. T, tổ 35, phường T. B, quận H. C, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

3. Ông Nguyễn Ngọc Châu H – Sinh năm 1992 - Địa chỉ: K36/12 B. Đ, phường T. B, quận H. C, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h30′ ngày 04.3.2021, Cái Bảo Duy L nhờ Võ Văn H chở đến khu tập thể số 48 Lê Đình Dương, phường Phước Ninh, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng để tìm gặp Tuấn (Chưa xác định được lai lịch). H đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số: 43H1-099.00 chở L đi. Khi đến nơi, L nói H đứng đợi ở dưới để L vào có việc, L đi lên tầng 4 khu tập thể tìm Tuấn nhưng không gặp. L thấy trước Phòng 401 có treo 01 lồng chim, bên trong có 01 con chim Vành khuyên của anh Phan Anh K, không có ai trông coi nên trộm cắp. Khi L cầm xuống thì H hỏi của ai nhưng L không trả lời và nói H chở L về nhà. Khi về đến nhà, H thấy đẹp nên hỏi L có bán thì H mua để nuôi. Sau đó, L đã bán cho H với giá 300.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân hết.

Theo Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐG ngày 22.3.2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND quận Hải Châu, kết luận: 01 con chim Vành khuyên nêu trên có trị giá 1.000.000 đồng; 01 cái lồng nuôi chim có trị giá: 1.500.000 đồng. Tổng cộng là 2.500.000 đồng (bút lục: 36).

Theo kết luận giám định pháp y tâm thần số 1085/KLGĐ ngày 09.6.2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Miền Trung đối với Cái Bảo Duy L kết luận:

* Trước thời điểm gây án và tại thời điểm gây án:

a. Kết luận về y học: Các rối loạn tâm thần và hành vi khác do sử dụng nhiều loại ma túy.

b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

* Thời điểm hiện tại:

a. Kết luận về y học: Sức khỏe tâm thần bình thường.

b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

Tại bản Cáo trạng số 107/CT-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Cái Bảo Duy L về tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tô ̣i danh nói trên đồng thờ i đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Á p du ̣ng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s, h, q khoản 1 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t hinh

̀ sự, xử pha ̣t Cái Bảo Duy L từ 03 năm đến 04 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận:

Khoảng 14h30′ ngày 04.3.2021, Cái Bảo Duy L nhờ Võ Văn H chở đến khu tập thể số 48 Lê Đình Dương, phường Phước Ninh, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng để tìm gặp Tuấn (Chưa xác định được lai lịch). H đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số: 43H1-099.00 chở L đi. Khi đến nơi, L nói H đứng đợi ở dưới để Lâm vào có việc, L đi lên tầng 4 khu tập thể tìm Tuấn nhưng không gặp. L thấy trước Phòng 401 có treo 01 lồng chim, bên trong có 01 con chim Vành khuyên của anh Phan Anh K không có ai trông coi nên trộm cắp. Khi về đến nhà, H thấy đẹp nên hỏi Lâm có bán thì H mua để nuôi. Sau đó, L đã bán cho H với giá 300.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân hết.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai những người bị hại và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo phạm tội về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có nhân thân xấu chưa được xóa án tích, phạm tội thuộc trường hợp “ tái phạm nguy hiểm ”. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử phạt với mức án nghiêm khắc tương ứng với hành vi phạm tội để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn và khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, h, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

Trong vụ án này đối với anh Võ Văn H chở giúp L đến khu tập thể 48 Lê Đình Dương và chở Lâm về. Sau đó, đã mua lồng chim và con chim nhưng không biết việc phạm tội của Cái Bảo Duy L nên không đề cập giải quyết là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Phan Anh K đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về xử lý tang vật:

- Đối với xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đen - bạc, biển số: 43H1-099.00 số khung: RLHJF4603DY093945, số máy: JF46E0107267 thuộc sở hữu của bà Châu Thị Ngọc T ( là mẹ của H ) cho H mượn và không liên quan đến việc trộm cắp của L nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu đã trả lại cho bà T là có căn cứ.

- Tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ vụ án 0101 đĩa CD video ghi hình ảnh L trộm tại khu tập thể 48 Lê Đình Dương, phường Phước Ninh, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng. Độ dài video khoảng 03 phút từ 14h27p53s đến 14h30p15s ngày 04.3.2021.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Cái Bảo Duy L phạm tội “Trộm cắp tài sản”

1. Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s, h, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Xử phạt: Cái Bảo Duy L 03 ( ba) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt tạm giam, ngày 17.8.2022.

2. Án phí HSST bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.

3. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 21/12/2022. Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP Đà Nẵng;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND TP.Đà Nẵng;

- VKSND Q.Hải Châu;

- Công an Q.Hải Châu;

- CC THADS Q.Hải Châu;

- Bị cáo;

- Những người TGTT;

- Lưu hồ sơ.

ĐẶNG NGỌC KINH LUÂN TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN HẢI CHÂU

Độc lập - Tự do - Hạnh phú

TP. ĐÀ NẴNG

Hải Châu, ngày 21 tháng 12 năm 2022 Số: 103 /2022/HSST-QĐTG <

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Kinh Luân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Công Tâm

Ông Nguyễn Thanh Tùng

Căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 21/12/2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1

Tạm giam bị cáo: Cái Bảo Duy Lâm - Sinh ngày 05 tháng 3 năm 1986 tại thành phố Đà Nẵng

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: K46/H16/9 Cao Thắng, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng;

Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 03 (ba) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 21 tháng 12 năm 2022.

Điều 2

Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ