vanban.org

Bản án 122/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 26/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thành V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Thành V 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/4/2022. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đỗ Thành V phải bồi thường cho anh Trần Văn Vinh số tiền 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng), anh Trương Thanh Quý số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thanh Vị phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thành V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ H
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:122 /2022/HS-ST
Ngày 26 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phương Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Hồng Thủy.

Ông Nguyễn Hữu Tố.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Hồ Nhật Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:

Đỗ Thành V, sinh ngày 12 tháng 12 năm 1991 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: An Tây Điền, Ph, Đức Ph, Quảng Ng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Thành Danh, sinh năm 1952 và bà Ngô Thị Tuyết Sương, sinh năm 1964; vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 20/11/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xử phát 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 20/9/2011 chưa được xóa án tích (chưa nộp án phí sơ thẩm), ngày 02/4/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 06 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 26/5/2017, chưa được xóa án tích, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/6/2010, bị Chủ tịch UBND xã Phổ Nhơn, huyện Đức phổ, tỉnh Quảng Ngãi ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã về hành vi Trộm cắp tài sản; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

- Anh Trương Thanh Q, sinh năm 2001 (vắng mặt).

- Anh Trần Văn V, sinh năm 1993 (vắng mặt).

- Anh Võ Anh S, sinh năm 2000 (vắng mặt).

Cùng trú tại: Thôn L xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

- Anh Huỳnh Minh T, sinh năm 1988 (có mặt).

- Chị Võ Thị Ú, sinh năm 1995 (có mặt).

- Chị Trần Thị H, sinh năm 1988 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Cùng trú tại: Thôn K, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

- Anh Ngô Văn T, sinh năm 1980 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) .

- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1963 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) .

Cùng trú tại: Thôn K, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

- Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1996 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn K, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

- Ông Lê M, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn Kim Gi, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 26/10/2021, Đỗ Thành V đi xe ôm từ phường Bồng Sơn, thị xã H đến thôn L, xã H, thị xã H để trộm cắp tài sản. V phát hiện nhà ông Nguyễn Văn Xuân (sinh năm 1996, ở thôn L, xã H, thị xã H) có Trần Văn Vinh, Trương Thanh Quý, Võ Anh Sỹ cùng ở thôn L, xã H, thị xã H đang ngủ. V lén lút đột nhập vào nhà Xuân lấy trộm 01 điện thoại iphone 11 Promax của anh Vinh, 01 điện thoại iphone 8 Plus của anh Quý, 01 điện thoại Samsung Galaxy S9 Plus của anh Sỹ. Sau đó, V bán điện thoại iphone 11 Promax với giá 3.500.000 đồng, bán điện thoại iphone 8 Plus với giá 2.500.000 đồng tại các tiệm điện thoại không rõ địa chỉ; đối với điện thoại Samsung Galaxy S9 Plus V không bán được nên vứt trên đường không xác định được V trí. Số tiền bán điện thoại, V sử dụng vào mục đích cá nhân.

Trong quá trình điều tra Đỗ Thành V còn khai nhận đã thực hiện các vụ trộm cắp khác như sau:

Vụ 1: Rạng sáng ngày 13/4/2022, V điều khiển xe mô tô 81B1-670.57 từ phường Bồng Sơn, thị xã H đến khu vực xã Hoài Hải, thị xã H để trộm cắp tài sản. V phát hiện cửa sau nhà ông Huỳnh Minh Tầm không khóa nên lén lút đột nhập vào phòng ngủ lấy số tiền 13.500.000 đồng để trong tủ quần áo. Sau đó, V lục ví da để trên kệ tủ dọc đường luồng lấy 3.000.000 đồng. Số tiền trộm cắp, V sử dụng vào mục đích cá nhân hết.

Vụ 2: Rạng sáng ngày 19/4/2022, V điều khiển xe mô tô 81B1-670.57 từ phường Bồng Sơn, thị xã H đến khu vực xã Hoài Hải, thị xã H để trộm cắp tài sản. V phát hiện của nhà bà Võ Thị Ú không khóa nên lén lút đột nhập vào phòng bếp lấy trộm 700.000 đồng bên trong ví da và 01 căn cước công dân mang tên Võ Tòng. V đến bên bàn gỗ lấy trộm 01 điện thoại OPPO F5 màu vàng. V tiếp tục đi vào phòng ngủ lục lấy số tiền 200.000 đồng trong túi áo khoác nữ treo trên tường.

Sau đó, V tiếp tục lén lút đột nhập vào nhà bà Trần Thị Hồng lấy trộm 01 điện thoại Samsung Galaxy A12 màu đen để ở phòng khách và bán cho một tiệm điện thoại không rõ địa chỉ với giá 600.000 đồng. Đối với điện thoại OPPO F5 màu vàng V không bán được nên vứt trên đường không xác định được V trí. Số tiền bán điện thoại, V sử dụng vào mục đích cá nhân hết.

Vụ 3: Rạng sáng ngày 20/4/2022, V điều khiển xe mô tô 81B1-670.57 từ phường Bồng Sơn, thị xã H đến khu vực xã Hoài Hải, thị xã H để trộm cắp tài sản. V đột nhập vào nhà ông Ngô Văn Tít lấy trộm 01 điện thoại OPPO A55 để trên đầu tủ phòng ngủ, 01 điện thoại Samsung A71 để trên bàn trang điểm gần giường ngủ. V lục ví da để trên bàn trang điểm lấy số tiền 17.000.000 đồng. Sau đó, V bán điện thoại Samsung A71 cho một tiệm điện thoại không rõ địa chỉ với giá 800.000 đồng, đối với điện thoại OPPO A55 V không bán được nên vứt xuống sông gần cầu mới Bồng Sơn. Số tiền trộm cắp và số tiền bán điện thoại V sử dụng vào mục đích cá nhân đã hết.

Vụ 4: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 26/4/2022, V điều khiển xe mô tô 81B1-670.57 từ xã Hoài Mỹ, thị xã H đến khu vực xã Hoài Hải, thị xã H để trộm cắp tài sản. V để xe máy ở gần bờ biển rồi đi bộ lòng vòng dọc đường bờ biển. Sau đó, V đột nhập vào nhà ông Nguyễn Đức Tâm lấy trộm số tiền 483.000 đồng bên trong ví da cất trên tủ phòng bếp.

Vị tiếp tục đi bộ về hướng Bắc khoảng 200m, đột nhập vào nhà ông Lê Mình lấy trộm một điện thoại Iphone 6S Plus màu bạc để trên tủ gỗ phòng khách và 01 điện thoại OPPO A3S màu đỏ.

Sau đó, V tiếp tục đột nhập vào nhà bà Nguyễn Thị Bảy lấy trộm 03 thùng bia HUDA rồi đưa qua lỗ trống hàng rào ra ngoài thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang.

Kết luận định giá tài sản số 36/HĐĐGTS ngày 06/5/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã H kết luận:

+ Tại thời điểm ngày 26/10/2021, 01 điện thoại iphone 11 Promax có giá trị 16.000.000 đồng, 01 điện thoại iphone 8 Plus có giá trị 8.000.000 đồng, 01 điện thoại Samsung Galaxy S9 Plus có giá trị 8.000.000 đồng.

+ Tại thời điểm ngày 19/4/2022, 01 điện thoại Samsung Galaxy A12 có giá trị 2.000.000 đồng, 01 điện thoại OPPO F5 có giá trị 1.200.000 đồng.

+ Tại thời điểm ngày 20/4/2022, 01 điện thoại OPPO A55 có giá trị 2.500.000 đồng, 01 điện thoại Samsung A71 có giá trị 3.500.000 đồng.

+ Tại thời điểm ngày 26/4/2022, 01 điện thoại Iphone 6S Plus có giá trị 2.000.000 đồng, 01 điện thoại OPPO A3S có giá trị 700.000 đồng, 03 thùng bia HUDA có giá trị 840.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an thị xã H đã tạm giữ:

+ 03 thùng bia hiệu HUDA, màu trắng xanh, loại bia lon; Số tiền 483.000 đồng; 01 điện thoại Iphone 6S Plus, màu bạc, số sê ri: C39QDFQXGRWF; 01 điện thoại OPPO A3S, màu đỏ, số IMEI 1: 866531046314057, số IMEI 2: 866531046314040 (đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp);

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision màu xanh đen, gắn biển số 81B1-670.57, số máy: JF58E-0164742, số khung: RLHJF5808EY164643 (bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai theo Quyết định tạm giữ đồ vật, tài liệu số 81 ngày 20/6/2022 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Pleiku).

Tại Bản cáo trạng số: 59/CT-VKSHN ngày 05 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Đỗ Thành V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thành V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì,

Tại phiên tòa anh Huỳnh Minh Tầm yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 16.500.000 đồng, chị Võ Thị Út yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 2.100.000 đồng. Về hình phạt, anh Tầm, chị Út đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Đỗ Thành V. Căn cứ vào hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Thành V phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Thành V từ 04 năm đến 05 năm tù. Về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thành V đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 26/10/2021 đến ngày 27/4/2022, trên địa bàn xã Hoài Hải và xã Hoài Mỹ, thị xã H, tỉnh Bình Định. Đỗ Thành V đã thực hiện nhiều vụ Trộm cắp tài sản của các bị hại Nguyễn Thị Bảy, Nguyễn Đức Tâm, Lê Mình, Trần Văn Vinh, Lê Văn Quý, Võ Anh Sỹ, Huỳnh Minh Tầm, Võ Thị Út, Trần Thị Hồng, Ngô Văn Tít. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã H xác định là 79.623.000 đồng. Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với tình tiết tái phạm, chưa được xoá án tích lại phạm tội do cố ý. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thị Hoài Nhơn đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

- Các tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu: Đã từng bị Chủ tịch UBND xã Phổ Nhơn, huyện Đức phổ, tỉnh Quảng Ngãi ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã về hành vi Trộm cắp tài sản; bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ xử phạt về tội Trộm cắp tài sản.

Về trách nhiệm dân sự:

- Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã thu hồi và trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho các bị hại Nguyễn Thị Bảy, Nguyễn Đức Tâm, Lê Mình, các bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Các bị hại Trần Văn Vinh, Trương Thanh Quý, Võ Anh Sỹ, Huỳnh Minh Tầm, Võ Thị Út, Trần Thị Hồng, Ngô Văn Tít yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại giá trị tài sản bị chiếm đoạt . Yêu cầu của các bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Buộc bị cáo Đỗ Thành V phải bồi thường cho anh Trần Văn Vinh số tiền 16.000.000 đồng, anh Trương Thanh Quý số tiền 8.000.000 đồng, anh Võ Anh Sỹ số tiền 8.000.000 đồng, anh Huỳnh Minh Tầm số tiền 16.500.000 đồng, chị Võ Thị Út 2.100.000 đồng, chị Trần Thị Hồng số tiền 2.000.000 đồng, anh Ngô Văn Tít số tiền 23.000.000 đồng.

Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thành V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Thành V 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/4/2022.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đỗ Thành V phải bồi thường cho anh Trần Văn Vinh số tiền 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng), anh Trương Thanh Quý số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng), anh Võ Anh Sỹ số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng), anh Huỳnh Minh Tầm số tiền 16.500.000 đồng (mười sáu triệu năm trăm ngàn đồng), chị Võ Thị Út 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm ngàn đồng), chị Trần Thị Hồng số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), anh Ngô Văn Tít số tiền 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng).

4. Về án phí: Bị cáo Đỗ Thành V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.780.000 đồng (ba triệu bảy trăm tám mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

6.1. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

6.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ