vanban.org

Bản án 122/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

1/- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Chúc L được ly hôn anh Nguyễn Văn H. 2/- Về nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị L và anh H, cụ thể: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thí Q sinh ngày 02/3/2009 và Nguyễn Văn C sinh ngày 29/6/2012 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp chăm só… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly - Huy"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GIÁ RAI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 13/12/2022
“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giang Thị Cẩm Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Nhạn

2. Ông Trần Văn Rồng

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 446/2022/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Võ Thị Chúc L, sinh năm 1990

Địa chỉ: ấp 12, xã Phong Thạnh Đ, thị xã G, tỉnh B.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H sinh năm 1988

Địa chỉ: ấp 12, xã Phong Thạnh Đ, thị xã G, tỉnh B

Nơi ở hiện nay: khóm 12, phường Láng T, thị xã G, tỉnh B.

(các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là chị Võ Thị Chúc L trình bày tại đơn khởi kiện, các lời khai và tại phiên tòa: Chị và anh H chung sống từ năm 2008, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Phong Thạnh Đông. Do vợ chồng có mâu thuẫn, không hòa thuận, hay cải vả nhau và chung sống không hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân hơn 10 tháng đến khi chị nộp đơn ly hôn, chị đã chủ động ra đi và vợ chồng không còn chung sống với nhau. Chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Thí Q sinh ngày 02/3/2009 và Nguyễn Văn C sinh ngày 29/6/2012, chị đồng ý giao anh H nuôi con, không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Văn H trình bày tại các lời khai và tại phiên tòa: Anh thống nhất với chị L về thời gian chung sống, đăng ký kết hôn và các con chung. Về quan hệ vợ chồng anh không đồng ý ly hôn chị L vì anh còn tình thương chị L, anh nhận sai và hứa sửa sai, yêu cầu đoàn tụ gia đình để cùng nhau nuôi dạy các con, vợ chồng đã ly thân khoảng 10 tháng như chị L khai, chị L đã tự ý bỏ đi, để các con lại sống cùng anh. Nếu chị L cương quyết ly hôn thì anh vẫn không đồng ý ly hôn. Con chung thì yêu cầu nhận nuôi, không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc gửi các văn bản cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng thời hạn. Tại phiên tòa hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71, 72 và 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Chúc L được ly hôn anh Nguyễn Văn H. Về con chung thì ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa chị L và anh H: giao anh H trực tiếp chăm sóc, giáo dục 02 con chung, không giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con do không có yêu cầu, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hôn nhân: Chị Võ Thị Chúc L và anh Nguyễn Văn H thống nhất chung sống từ năm 2008, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn ngày 03/12/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Phong Thạnh Đông. Do đó, hôn nhân giữa chị L và anh H là hợp pháp. Chị L yêu cầu ly hôn anh H do vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn, bất đồng, hay cải vả, chị đã trao đổi với anh H nhiều lần nhưng không kết quả, vợ chồng đã sống ly thân thời gian hơn 10 tháng, thời gian ly thân chị đã chủ động hàn gắn, giải quyết mâu thuẫn nhưng anh H không chấp nhận, đến khi chị nộp đơn ly hôn thì anh H mới xin lỗi và hứa sửa đổi, chị nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh H được do không còn tình thương nên chị cương quyết ly hôn. Anh H thì không đồng ý ly hôn chị L do còn tình thương với chị L, anh yêu cầu hàn gắn, đoàn tụ gia đình, anh xác định vợ chồng đã ly thân và chị L đã rời khỏi nơi chung sống của vợ chồng. HĐXX nhận xét đời sống gia đình phải xuất phát tình cảm từ giữa hai người và vợ chồng phải thật sự yêu thương quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; vợ chồng phải có nghĩa thương yêu nhau và bình đẳng về mọi mặt nhưng tình cảm giữa chị L và anh H đã có sự rạn nứt, hôn nhân không hạnh phúc, cuộc sống chung đã tự chấm dứt. Tại phiên tòa chị L xác định không còn tình cảm đối với anh H và anh H yêu cầu hàn gắn nhưng anh không có cách nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng; còn chị L thì không chấp nhận hàn gắn tình cảm với anh H. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân của chị L và anh H đã có mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không còn nên mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Chúc L đối với anh Nguyễn Văn H.

Về nuôi con chung: Chị L, anh H xác định chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Thí Q sinh ngày 02/3/2009 và Nguyễn Văn C sinh ngày 29/6/2012. Hai bên tự nguyện thỏa thuận và thống nhất giao anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung; không đặt ra giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con do không yêu cầu. Hội đồng xét xử xét thấy chị L và anh H đã thỏa thuận và thống nhất về việc nuôi con chung khi ly hôn, sự thỏa thuận này phù hợp với nguyện vọng của con chung, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 của luật Hôn nhân và gia đình nên được ghi nhận. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của anh H, chị L; không đặt ra xem xét về việc cấp dưỡng nuôi con do các bên không yêu cầu. Chị Võ Thị Chúc L không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, chị L hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Khi có lý do chính đáng, anh H, chị L có quyền thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con, phương thức cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Các bên đương sự thống nhất không có và không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai là phù hợp với quy định nên HĐXX ghi nhận.

Án phí sơ thẩm: Chị Võ Thị Chúc L phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị L đã dự nộp 300.000 đồng lai thu số 0004456 ngày 25/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Giá Rai được chuyển thu án phí. Anh Nguyễn Văn H không phải nộp án phí.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Chúc L được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

2/- Về nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị L và anh H, cụ thể: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thí Q sinh ngày 02/3/2009 và Nguyễn Văn C sinh ngày 29/6/2012 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; không đặt ra giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con do không yêu cầu. Chị Võ Thị Chúc L không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trên cơ sở lợi ích của con chung những người quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn trong trường hợp có căn cứ cho rằng người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3/- Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

4/- Án phí sơ thẩm: Chị Võ Thị Chúc L phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị L đã dự nộp 300.000 đồng lai thu số 0004456 ngày 25/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Giá Rai được chuyển thu án phí.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ