vanban.org

Bản án 122/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thùy L được ly hôn với anh Hoàng Văn H. Về con chung: Chị Nguyễn Thùy L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hoàng Trung Hiếu, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2018 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thuy L, Hoàng Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2022/HNGĐ-ST
Ngày 28 - 12 - 2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

THành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ Quỳnh.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đoàn Thị Mến;

2. Ông Hoàng Văn Khiếu.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Yên tiến Hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 259/2022/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:113/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thùy L, sinh năm 1995

Trú tại: Tổ dân phố 9, thị Trấn M, huyện Y, tỉnh YB; Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1990

Trú tại: Thôn 9, xã Đ, huyện LY, tỉnh YB; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 5 năm 2022 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thùy L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị L và anh Hoàng Văn H kết hôn năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện LY, tỉnh YB ngày 09 tháng 8 năm 2017. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H không quan tâm tới vợ con, hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, ảnh hưởng tới việc nuôi dạy con chung. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị L được ly hôn với anh Hoàng Văn H.

Về con chung: Chị L và anh H có một con chung con Hoàng Trung Hiếu, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2018 con chung hiện đang ở với chị L, khi ly hôn chị L yêu cầu Tòa án giải quyết, chị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến Hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và tiến Hành phiên hoà giải nhiều lần, nhưng anh H không có mặt, Tòa án đã lập biên bản không hòa giải được và xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến đối với Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định về tố tụng, nguyên đơn có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, anh H vắng mặt chưa hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ kiện.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị L được ly hôn với anh H. Về con chung, căn cứ điều kiện về chỗ ở, thu nhập nguyện vọng của con chung. Giao cho chị L trực tiếp nuôi con chung Hoàng Trung Hiếu. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Toà án thụ lý và giải quyết vụ án xác định mối quan hệ pháp luật vụ án ly hôn, theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thùy L, do bị đơn anh H có hộ khẩu thường trú tại Thôn 9, xã Đ, huyện LY, tỉnh YB. Căn cứ quan hệ pháp luật và thẩm quyền theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái có thẩm quyền giải quyết.

Tòa án xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 do anh H được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vắng mặt không có lý do.

Đối với quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thùy L và anh Hoàng Văn H kết hôn năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện LY tỉnh Yên Bái ngày 09 tháng 8 năm 2017. Việc kết hôn này tuân thủ đúng các quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này qua lời khai của chị L, do quan điểm sống không phù hợp mỗi người một tính cách, anh H ham chơi, không quan tâm đến chị L và con chung.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cung nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Trên thực tế vợ chồng chị L, anh H thường xảy ra mâu thuẫn, đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, căn cứ biên bản xác minh ngày 04 tháng 11 năm 2022 tại Thôn 9, xã Đ, huyện LY, tỉnh YB.

Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử, xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thùy L được ly hôn với anh Hoàng Văn H.

Về con chung: Chị L và anh H có một con chung Hoàng Trung Hiếu, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2018; con chung hiện đang sinh sống cùng chị L. Căn cứ thu nhập hiện tại của chị L làm nghề tự do thu nhập trung bình hằng tháng khoảng 20.000.000,đ (Hai mươi triệu) đồng, điều kiện chỗ ở ổn định. Căn cứ các quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, việc giao con chung cho chị L nuôi dưỡng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận cầu của nguyên đơn. Chị L nuôi con chung, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Phát biểu của Kiểm sát viên về nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị Nguyễn Thùy L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thùy L được ly hôn với anh Hoàng Văn H.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thùy L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hoàng Trung Hiếu, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2018 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thùy L phải nộp 300.000,đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000,đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai số: AA/2021/0002488 ngày 10 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm chị L, anh H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bán án hoặc bản án được niêm yết./.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi Hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7b và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự”. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Tỉnh;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND Huyện;

- Thi Hành án dân sự Huyện;

- UBND xã ĐQ;

- Các đương sự;

- Lưu HS,T.A,THS.

Nguyễn Đỗ Quỳnh CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đỗ Quỳnh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Tỉnh;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND Huyện;

- Thi Hành án dân sự Huyện;

- UBND xã Mường Lai;

- Các đương sự;

- Lưu HS,T.A,THS.

Nguyễn Đỗ Quỳnh CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đỗ Quỳnh

Cỡ chữ