- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp yêu cầu di dời tài sản trên đất và yêu cầu hủy hợp đồng công chứng"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kh ng c o của bà Nguyễn Thị Ngọc A.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng d n sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2022 /DS-PT Ngày: 28 - 12 - 2022 “V/v Tranh chấp yêu cầu di dời tài sản trên đất và yêu cầu hủy hợp đồng công chứng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành
Các Thẩm phán:
Ông Trịnh Hữu Bình
Ông Huỳnh Đắc Đương
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà - Thư ký T a n nh n d n t nh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Thạch Vũ- Kiểm s t viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở T a n nh n d n t nh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ n thụ lý số: 174/2022/TLPT-DS ngày 18 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp yêu cầu di dời tài sản trên đất” và “Yêu cầu hủy hợp đồng công chứng, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản n d n sự sơ thẩm số 67/2022/DS-ST, ngày 22 tháng 9 năm 2022 của T a n nh n d n thành phố T bị kh ng c o.
Theo Quyết định đưa vụ n ra xét xử phúc thẩm số: 19/2022/QĐPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2022 giữa c c đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Bùi Phi H, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa ch : Khóm A, phường A, thành phố T, t nh Trà Vinh
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1978 (có mặt)
Địa ch : Khóm A, phường X, thành phố T, t nh Trà Vinh
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1967 (có mặt)
Địa ch : Số M, đường C, khóm A, phường X, thành phố T, t nh Trà Vinh.
2/ Ông Trần Tấn N, sinh năm 1984
Địa ch : Khóm A, phường X, thành phố T, t nh Trà Vinh.
Người đại diện hợp ph p cho ông Trần Tấn N: Bà Nguyễn Thị Ngọc A sinh năm 1956; Địa ch : Khóm A, Phường X, thành phố T, t nh Trà Vinh, theo văn bản ủy quyền đề ngày 17/10/2022.
3/ Chị Lê Thị Cẩm Ê, sinh năm 2001.
4/ Cháu Lê Thị Mỹ U, sinh năm 2005.
Cùng địa ch : Khóm A, phường X, thành phố T, t nh Trà Vinh.
Người đại diện hợp ph p cho chị Lê Thị Cẩm Ê, cháu Lê Thị Mỹ U là bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1978. Địa ch : Khóm A, Phường X, thành phố T, t nh Trà Vinh, theo văn bản ủy quyền đề ngày 27/12/2022.
5/- Văn ph ng Công chứng P.
Người đại diện hợp ph p: Bà Lê Thị Mỹ B (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa ch : Số M, đường L, khóm A, phường T, thành phố T, t nh Trà Vinh.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc A là bị đơn trong vụ n.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/11/2019, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Bùi Phi H trình bày:
Vào giữa năm 2017 đến năm 2018, bà Nguyễn Thị Ngọc A có mượn tiền của tôi 03 lần với tổng số tiền 450.000.000 đồng nhưng do tôi sơ ý nên không yêu cầu bà A ghi ngày th ng nhận tiền trong biên nhận. Sau một thời gian bà A không thực hiện việc trả nợ nên ngày 28/6/2018, bà A thỏa thuận với tôi chuyển nhượng cho tôi 02 thửa đất số 285 và 287, cùng tờ bản đồ số 47, đất tọa lạc tại khóm A, phường X, thành phố T, t nh Trà Vinh để cấn trừ tiền nợ. Tôi nhận thấy việc bà A trả tiền nợ cho tôi là không khả thi nên tôi đồng ý. Hai bên thực hiện việc chuyển nhượng tại Văn ph ng công chứng P đúng quy định của ph p luật nên tôi đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vào thời điểm thỏa thuận chuyển nhượng đất, bà A có làm cho tôi biên nhận với nội dung hiện nay đang ở trên phần đất chuyển nhượng cho tôi và cam kết vào ngày 29/6/2019 m lịch sẽ di dời đi nơi kh c để giao nhà và đất cho tôi sử dụng. Nhưng đến ngày hẹn, bà A không thực hiện theo như cam kết nên tôi khởi kiện yêu cầu T a n giải quyết buộc bà A di dời tài sản ra khỏi căn nhà và giao trả cho tôi diện tích 16,8m2, thửa đất số 287, loại đất chuyên trồng lúa nước và diện tích 73,1m2, thửa đất số 285, loại đất trồng c y l u năm, cùng tờ bản đồ số 47, cùng tọa lạc tại khóm A, phường X, thành phố T, t nh Trà Vinh. Đối với yêu cầu phản tố của bà A thì tôi không đồng ý vì bà A tự thỏa thuận và làm hợp đồng hợp ph p để chuyển nhượng phần đất này cho tôi và tôi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định nên yêu cầu phản tố của bà A là không có căn cứ. Tôi yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của tôi và b c đơn yêu cầu phản tố của bà A.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc A trong quá trình giải quyết vụ án, trình bày: Ngày 28/6/2018, tại Ph ng công chứng P, bà Nguyễn Thị Bích V (bà V giao cho con trai của mình là Bùi Phi H đứng tên hợp đồng) buộc bà A phải làm hợp đồng mua b n tài sản của mình cho ông Bùi Phi H để vay số tiền là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, mỗi th ng phải đóng lãi là 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng và bà A đã đóng được 03 th ng tiền lãi. Lúc giao kết hợp đồng, bà V nói là ra công chứng ch để tạm đó không mất đất của bà A. Trong lúc đó, ông Bùi Phi H tự ý đi sang tên giấy đất mà không được sự đồng ý của bà A. Bà A yêu cầu bà V trả lại tài sản cho bà A còn bà A sẽ trả lại tiền nợ cho bà V nhưng bà V không đồng ý c n nhiều lần th ch thức bà A đi thưa và liên tục làm khó bà A, không cho bà A tài sản trên để trả nợ cho bà V. Nay ông Bùi Phi H khởi kiện yêu cầu bà A di dời tài sản để ông lấy nhà và đất thì bà A không đồng ý với yêu cầu của ông H. Bà A yêu cầu phản tố yêu cầu T a n hủy hợp đồng công chứng số: 4503 ngày 28/6/2018 của Văn ph ng công chứng P và Yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 285 và 287, cùng tờ bản đồ số 47, đất tọa lạc tại khóm A, phường F, thành phố T, t nh Trà Vinh đã cấp cho ông Bùi Phi H do hợp đồng này là hợp đồng giả c ch để hợp thức hóa hợp đồng vay tiền.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích V trình bày:
Khoảng năm 2017 đến năm 2018, bà A có qua mượn tiền nhưng tôi không có tiền nên lấy tiền của con tôi là Bùi Phi H đưa cho bà A 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng. Sau đó vài ngày, bà A lại hỏi mượn thêm 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, rồi vài ngày nữa lại mượn tiếp 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, tôi dùng tiền của con tôi để đưa tiền cho bà A mượn, nên tổng số tiền bà A mượn là 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng. Sau khi nhận tiền thì bà A nợ lãi mấy th ng không đóng. Do không có khả năng trả nợ nên bà A đến gặp con tôi để thương lượng chuyển nhượng đất cho con tôi để trừ tiền nợ. Về việc chuyển nhượng như thế nào thì giữa bà A với con tôi thực hiện nên tôi hoàn toàn không biết. Nay con tôi khởi kiện yêu cầu bà A di dời tài sản để giao đất cho con tôi và bà A có đơn yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của con tôi thì tôi không có ý kiến gì. Tôi yêu cầu T a n giải quyết theo quy định của ph p luật.
- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc A vắng mặt nên không có lời trình bày.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Văn phòng Công chứng P vắng mặt nhưng có lời khai với nội dung: Văn ph ng Công chứng P có công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 4503, ngày 28/6/2018 giữa bà Nguyễn Thị Ngọc A với ông Bùi Phi H là đúng theo quy định của ph p luật hiện hành.
Tại bản n d n sự sơ thẩm số: 67/2022/DS-ST, ngày 22 tháng 9 năm 2022 của T a n nh n d n thành phố T đã xử:
Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; c c Điều 91; 143; 144; 147; 156; 158; 165; 217; 227 và 228 Bộ luật tố tụng d n sự.
Căn cứ c c Điều 116; 500; 502 Bộ luật d n sự.
Căn cứ Khoản 10 Điều 12; Điều 166; 188; 202 và 203 Luật đất đai.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng n phí và lệ phí T a n.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Phi H.
Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc A và c c thành viên trong hộ gia đình phải di dời tài sản trên đất để trả lại nhà và đất thuộc thửa đất số 285 và 287, cùng tờ bản đồ số 47, đất tọa lạc tại khóm A, phường X, thành phố T, t nh Trà Vinh cho nguyên đơn ông Bùi Phi H sử dụng.
Nguyên đơn ông Bùi Phi H hỗ trợ di dời cho bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc A số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc A được lưu cư trên phần diện tích đất tranh chấp với thời gian 06 (s u) th ng kể từ ngày xét xử sơ thẩm 22 th ng 9 năm 2022.
Đình ch giải quyết đối với yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc A Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 4503, quyển số: III/2018 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 28 th ng 6 năm 2018 của Văn ph ng Công chứng P và Yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 285 và 287, cùng tờ bản đồ số 47, đất tọa lạc tại khóm A, phường X, thành phố T, t nh Trà Vinh.
Ngoài ra n sơ thẩm c n tuyên về án phí, chi phí thẩm định, định gi và quyền kh ng c o của c c đương sự theo luật định.
Ngày 11/10/2022 bà Nguyễn Thị Ngọc A kháng cáo: Yêu cầu ông Bùi Phi H phải trả lại nhà, đất cho bà và xin trả dần số tiền 300.000.000 đồng, không đồng ý theo bản n sơ thẩm của T a án nhân dân thành phố T.
Tại phiên t a phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn yêu cầu kh ng c o. C c đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ n, nguyên đơn không cung cấp bổ sung tài liệu chứng cứ, bị đơn cung cấp tài liệu cấp phúc thẩm gồm những hóa đơn thu tiền vay, hợp đồng vay nợ của Ng n hàng nông nghiệp, tại phiên t a phúc thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm s t nh n d n t nh Trà Vinh về vụ n: Về thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ n đến trước khi mở phiên t a đã thực hiện ban hành văn bản tố tụng và tống đạt c c văn bản chuyển hồ sơ sang cho VKS đầy đủ và đúng theo quy định bộ luật tố tụng d n sự, Thẩm ph n thực hiện đúng về thời hạn xét xử phúc thẩm và Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng và đầy đủ về trình tự, thủ tục phiên tòa phúc thẩm, c c đương sự đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng d n sự.
Về nội dung vụ n: T a n cấp sơ thẩm x c định hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Bùi Phi H và bà Nguyễn Thị Ngọc A, trên cơ sở tự nguyện và diễn ra sau khi bà A đã vay số tiền 450.000.000 đồng của ông H. Vì vậy, T a n cấp sơ thẩm x c định đ y là hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực ph p luật là đúng quy định. Từ ph n tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kh ng c o của bà Nguyễn Thị Ngọc A, giữ nguyên Bản n d n sự sơ thẩm số 67/2022/DS-ST ngày 22/9/2022 của T a n nh n d n thành phố T, t nh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua xem xét c c tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ n, lời trình bày tranh luận của c c đương sự, ý kiến của Kiểm s t viên; Hội đồng xét xử thấy rằng:
Xét đơn kh ng c o của bà Nguyễn Thị Ngọc A c n trong thời hạn kháng cáo nên được xem là hợp lệ được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, bà Nguyễn Thị Ngọc A cung cấp tài liệu, chứng cứ những hóa đơn thu tiền vay của Ng n hàng, hợp đồng vay tiền của Ng n hàng. Xét thấy, những tài liệu chứng cứ mà bà A cung cấp tại phiên t a ngày hôm nay là không có gi trị, chứng minh cho việc giải quyết nội dung vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét đ y là tài liệu chứng cứ mới.
Xét kh ng c o của bà Nguyễn Thị Ngọc A yêu cầu ông Bùi Phi H phải trả lại nhà, đất cho bà và xin trả dần số tiền 300.000.000 đồng; Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa ngày hôm nay, bà A khai nhận có vay tiền của ông Bùi Phi H hơn 100.000.000 đồng nhưng lại thừa nhận 03 biên nhận ông H cung cấp trong quá trình khởi kiện tổng số tiền 450.000.000 đồng là do bà ký tên. Do đó tòa án cấp sơ thẩm x c định bà A có vay số tiền của ông H 450.000.000 đồng là có căn cứ, bà A khai nhận bà đi ra Ph ng công chứng P để ký tên chuyển nhượng 02 thửa đất 285, 287 cho ông Phi H nhưng không phải chuyển nhượng mà do bà Nguyễn Thị Bích V gạt bà ký hợp đồng chuyển nhượng đất, bà Bích V nói ký tên nhưng đất vẫn còn của bà nhưng sau đó ông H lại tự ý sang cho ông H, lời khai nay của bà A trong hồ sơ vụ n cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bà A không chứng minh được, khi bà A chuyển nhượng đất cho ông H cũng đã ký cam kết thời gian giao nhà đất cho ông H, nên Tòa án cấp sơ thẩm x c định việc xác lập hợp đồng chuyển nhượng giữa ông H và bà A là tự nguyện để thỏa thuận trừ tiền nợ vay trước đó là có căn cứ, không có cơ sở để x c định đ y là hợp đồng giả c ch để che đậy hợp đồng vay nợ trước đó. Nên hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc A.
Xét thấy, đề nghị của Kiểm s t viên xét xử phúc thẩm là phù hợp với tài liệu chứng cứ vụ n và nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.
Về n phí phúc thẩm: Do kh ng c o của bà Nguyễn Thị Ngọc A không được chấp nhận nên bà A phải chịu n phí theo quy định ph p luật.
Vì c c lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015.
Căn cứ c c Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 th ng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng n phí, lệ phí T a n;
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kh ng c o của bà Nguyễn Thị Ngọc A.
Giữ nguyên bản n d n sự sơ thẩm số: 67/2022/DS-ST, ngày 22 tháng 9 năm 2022 của T a n nh n d n thành phố T.
Tuyên bố:
Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc A và c c thành viên trong hộ gia đình phải di dời tài sản trên đất để trả lại nhà và đất thuộc thửa đất số 285 và 287, cùng tờ bản đồ số 47, đất tọa lạc tại khóm A, phường X, thành phố T, tinh Trà Vinh cho nguyên đơn ông Bùi Phi H sử dụng.
Nguyên đơn ông Bùi Phi H hỗ trợ di dời cho bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc A số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc A được lưu cư trên phần diện tích đất tranh chấp với thời gian 06 (s u) th ng kể từ ngày xét xử sơ thẩm 22 th ng 9 năm 2022.
Về n phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc A phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) n phí d n sự phúc thẩm nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng n phí phúc thẩm đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0011892 ngày 11/11/2022 của Chi cục Thi hành n thành phố T, t nh Trà Vinh.
Trường hợp bản n, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành n d n sự thì người được thi hành n d n sự, người phải thi hành n d n sự có quyền thỏa thuận thi hành n. Quyền yêu cầu thi hành n, tự nguyện thi hành n hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo quy định tại c c Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành n d n sự, thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành n d n sự.
C c phần quyết định kh c của bản n sơ thẩm không có kh ng c o, không bị kh ng nghị có hiệu lực ph p luật kể từ khi hết hạn kh ng c o, kh ng nghị.
Bản n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật kể từ ngày tuyên n./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND t nh Trà Vinh; - TAND thành phố T; - Chi cục THADS Thành phố T; - Đương sự; - Lưu: HS, TDS. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Thành |