- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (điều 146 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên án về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi: Tuyên bố: TTT phạm tội
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2021/HSST Ngày: 03/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Tuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Hoàng Hạnh – Giảng viên Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Ông Nguyễn Đình Phúc – Phó giám đốc Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kim Tuyền – Thư ký Tòa án
nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Ngô Anh Hồng – Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân Quận 1.
Ngày 03 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 111/2021/TLST-HS ngày 30
tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 949/2021/QĐXXST-HS
ngày 04 tháng 10 năm 2021; Thông báo thay đổi thời gian tiếp tục phiên tòa số:
1010/TB-TA ngày 20 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
TTT, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1968, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng
ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số VVT, Phường 5, Quận 3, Thành phố
Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới
tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M (chết)
và bà Đỗ Thị Kim L; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị
bắt tạm giam ngày 14 tháng 5 năm 2021 tại nhà tạm giữ Công an Quận 1. (có
mặt)
Người bị hại: Trẻ HGT, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2008.
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông HC
- Bà D, sinh năm: 1976
Chỗ ở hiện nay: 175/6 VVT, Phường 5, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trẻ HGT: Ông Nguyễn
Bá N – Trợ giúp viên pháp lý của Trung T Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 10 tháng 5 năm 2021, trẻ HGT đến tiệm tạp hoá địa chỉ
số 170 VVT, Phường 5, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh của bị cáo TTT làm chủ để mua nước việt quất nhưng bị cáo nói không có rồi đề nghị chở Th đi mua thì Th đồng ý. Bị cáo sử dụng xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển kiểm soát 59F2-112.77 chở Th đến chợ Vườn Chuối, Quận 3 nhưng không mua được nên tiếp tục chở Th đến siêu thị Coop Mart, địa chỉ 189 Cống Quỳnh, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 để mua. Khi đến nơi, bị cáo gửi xe rồi đứng đợi, Th vào bên trong siêu thị để mua nước việt quất. Trong khi đứng đợi bị cáo nảy sinh ý định xâm hại tình dục Th để thỏa mãn nhu cầu sinh lý nên khi Th quay trở ra, bị cáo rủ Th đi vào nhà vệ sinh nam của siêu thị Coop Mart cùng với bị cáo thì Th đồng ý. Tại phòng vệ sinh nam, bị cáo đóng gài cửa và dùng hai tay tuột quần Th xuống sau đó dùng tay trái cầm vào dương vật đã cương cứng của Th. Bị cáo dùng miệng ngậm vào dương vật của Th khoảng 01 phút thì Th đẩy bị cáo ra. Sau đó, bị cáo lấy xe chở Th về đến hẻm 306 Võ Văn Tần, Phường 5, Quận 3 để Th tự đi bộ vào nhà. Khi về nhà, Th kể lại toàn bộ sự việc cho gia đình biết và được gia đình đưa đến Công an phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 để trình báo sự việc, rồi chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 xử lý theo thẩm quyền. Tại cơ quan điều tra, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. (Bút lục 82-92)
Theo bản kết luận giám định pháp y về ADN số: 1.121-2021/ADN ngày 09
tháng 6 năm 2021 của Trung T Pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Mẫu phết đầu dương vật, phết thân dương vật và phết vùng hậu môn của
HGT không hiện diện ADN người nam khác, chỉ có ADN của chủ thể.
- Hồ sơ ADN nhiễm sắc thể Y mẫu phết vùng bìu của HGT lập được không
hoàn chỉnh, do đó, không đủ cơ sở so sánh, đối chiếu.
- Trong mẫu phết tầng sinh môn của HGT có hiện diện ADN nhiễm sắc thể
Y của người nam khác nhưng không đủ làm cơ sở so sánh, đối chiếu.
- Trong mẫu phết đầu dương vật, phết vùng bìu và phết tầng sinh môn của
TTT không hiện diện ADN người nam khác, chỉ có ADN của chủ thể.
- Hồ sơ ADN nhiễm sắc thể Y mẫu phết vùng hậu môn của TTT lập được
không hoàn chỉnh, do đó, không đủ làm cơ sở so sánh, đối chiếu.
- Trong mẫu phết thân dương vật và phết kẽ ngón và các đường chỉ tay bàn
tay phải của TTT có hiện diện ADN người nam khác nhưng không đủ làm cơ sở so
sánh, đối chiếu.
- Trong mẫu phết kẻ ngón và các đường chỉ tay bàn tay trái của TTT có hiện
diện ADN người nam khác, đủ cơ sở so sánh, đối chiếu.
- ADN của HGT không hiện diện trong mẫu phết kẽ ngón và các đường chỉ
tay bàn tay trái của TTT.
Theo bản kết luận giám định pháp y về tình dục số: 66A/TD.21 ngày 07 tháng
7 năm 2021 của Trung T Pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với
HGT:
- Không thấy dấu vết vùng bộ phận sinh dục và hậu môn.
- Không thấy tinh trùng trong dịch phết vùng dương vật, bìu, tầng sinh môn
và vùng hậu môn.
- Mẫu phết đầu dương vật, thân dương vật và vùng hậu môn không có tế bào
nam lạ, chỉ có tế bào nam của chủ thể. Riêng mẫu phết vùng bìu không lập được hồ
sơ hoàn chỉnh nên không có tế bào nam lạ lẫn tế bào nam của chủ thể.
- Mẫu phết tầng sinh môn có tế bào nam lạ nhưng không đủ để làm cơ sở so
sánh, đối chiếu.
Theo bản kết luận giám định pháp y về tình dục số: 66B/TD.21 ngày 07 tháng
7 năm 2021 của Trung T Pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với
TTT:
- Không thấy tinh trùng trong dịch phết vùng dương vật, bìu, tầng sinh môn,
vùng hậu môn và vùng bàn tay hai bên.
- Mẫu phết đầu dương vật, vùng bìu và tầng sinh môn không có tế bào nam
lạ, chỉ có tế bào nam của chủ thể. Riêng mẫu phết vùng hậu môn không lập được
hồ sơ hoàn chỉnh nên không có tế bào nam lạ lẫn tế bào nam của chủ thể.
- Mẫu phết thân dương vật và bàn tay phải có tế bào nam lạ nhưng không đủ
để làm cơ sở so sánh, đối chiếu.
- Mẫu phết bàn tay trái có tế bào nam lạ, đủ làm cơ sở so sánh, đối chiếu.
- Tế bào nam lạ ở mẫu phết bàn tay trái không phải của HGT.
Bản cáo trạng số: 118/CT-VKS ngày 28 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm
sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo TTT về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng:
Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 146; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:
- Đại diện hợp pháp của trẻ Th không yêu cầu bị cáo T bồi thường về dân sự
nên không xét.
- 01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số: 59F2-112.77, số khung:
RLHJF5165JZ100532, số máy: JF87E-5000586; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đen, số Imei 1: 866498040661059, số Imei 2: 866498040661067 cần trả lại bị cáo.
- 01 đĩa DVD ghi hình trích xuất từ Camera an ninh của Siêu thị Coop Mart
liên quan đến vụ án cần tiếp tục lưu hồ sơ.
- 01 áo thun màu đỏ, 01 quần đùi dạng sọc thu giữ của bị cáo T; 01 áo thun
màu đỏ có chữ RAW DNW; 01 quần đùi màu xanh thu giữ của trẻ Th; bị cáo T và người đại diện hợp pháp của trẻ Th không nhận lại cần tiêu hủy.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trẻ Th, ông Nguyễn Bá
N – Trợ giúp viên pháp lý của Trung T Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh không tranh luận về tội danh, điểm, khoản mà Viện kiểm sát truy tố. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, trái với đạo đức và thuần phong, mỹ tục. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo không được tiếp xúc với bị hại khi chưa đủ 18 tuổi, trừ trường hợp được sự đồng ý của người đại diện hợp pháp của bị hại theo quy định tại khoản 4 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Phần đối đáp đại diện Viện kiểm sát và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bị hại giữ nguyên quan điểm.
Tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra
và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị cáo
xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời
khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu,
chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản hoạt động điều tra, biên bản khám
nghiệm hiện trường, biên bản đối chất, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản
tường trình, bản tự khai, kết luận giám định pháp y,… nên có căn cứ để kết luận:
Ngày 10 tháng 5 năm 2021, tại phòng vệ sinh nam siêu thị Coop Mart, số 189
đường Cống Quỳnh, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo T đã có hành vi dùng miệng tiếp xúc trực tiếp vào bộ phận sinh dục của trẻ
Th không nhằm quan hệ tình dục mà nhằm thỏa mãn dục vọng cá nhân. Do đó, Hội
đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo T đã phạm vào tội “Dâm ô đối với người
dưới 16 tuổi” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật
Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1
truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều
tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy
tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp bị hại, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu
nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo lợi dụng sự
thiếu hiểu biết của bị hại đã có hành vi dâm ô với trẻ Th nhằm thỏa mãn dục vọng
cá nhân. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến sự phát triển bình thường, xâm phạm
đến tinh thần, sức khỏe và sự phát triển về T, sinh lý của bị hại; gây mất trật tự trị an xã hội nên cần có mức án nghiêm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên
tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã lớn tuổi. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét lời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trẻ Th, ông Nguyễn Bá
Ngừng – Trợ giúp viên pháp lý của Trung T Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên buộc bị cáo cấm làm công việc nhất định liên quan đến việc tiếp túc người chưa đủ 18 tuổi là không có cơ sở để xem xét.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:
- Bà Trần Thị Dung là người đại diện hợp pháp của trẻ Th không yêu cầu bị
cáo T bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số: 59F2-112.77, số khung:
RLHJF5165JZ100532, số máy: JF87E-5000586; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đen, số Imei 1: 866498040661059, số Imei 2: 866498040661067. Cơ quan điều tra Công an Quận 1 thu giữ là tài sản của bị cáo, không liên quan đến vụ án cần xem xét để trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 đĩa DVD ghi hình trích xuất từ Camera an ninh của Siêu thị
Coop Mart liên quan đến vụ án cần tiếp tục lưu hồ sơ.
- Đối với 01 áo thun màu đỏ, 01 quần đùi dạng sọc thu giữ của bị cáo T; 01
áo thun màu đỏ có chữ RAW DNW, 01 quần đùi màu xanh thu giữ của trẻ Th. Bị cáo T và người đại diện hợp pháp của trẻ Th không nhận lại và xét không còn giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2
Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp bị hại,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên án về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi: Tuyên bố: TTT phạm tội
“Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.
Căn cứ khoản 1 Điều 146; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ
luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; phạt bị cáo TTT 06 (sáu) tháng
tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 5 năm 2021.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD ghi hình trích xuất từ Camera an ninh
của Siêu thị Coop Mart liên quan đến vụ án.
Trả lại bị cáo TTT 01 (một) xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số: 59F2-
112.77, số khung: RLHJF5165JZ100532, số máy: JF87E-5000586; 01 (một) điện
thoại di động hiệu Xiaomi màu đen, số Imei 1: 866498040661059, số Imei 2:
866498040661067.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 44/21-PNK ngày 18 tháng 10 năm
2021 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)
Tiêu hủy 01 (một) áo thun màu đỏ, 01 (một) quần đùi dạng sọc, 01 (một) áo
thun màu đỏ, có chữ RAW DNW, 01 (một) quần đùi màu xanh.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 125/21-PNK ngày 18 tháng 10 năm
2021 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo TTT phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm là 200.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân
sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu
thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định
tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bị cáo TTT, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho trẻ HGT có quyền
kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Tp. HCM; - VKSND Tp. HCM; - VKSND Quận 1, Tp. HCM; - Chi cục THADS Quận 1, Tp. HCM; - Công an Quận 1, Tp. HCM; - Phòng PC 53; - Sở Tư pháp Tp. HCM - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Ngọc Tuân |