vanban.org

Bản án 122/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ly hôn giữa chị Hà Thị T và anh Tạ Văn B.

Về con chung: Giao chị Hà Thị T có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung Tạ Xuân D sinh ngày 09 tháng 09 năm 2008. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh B cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Tạ Văn B có quyền , nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn ; không ai được cản trở, không được… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T - B"
  • Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa chị Hà Thị T và anh Tạ Văn B.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRỰC NINH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2021/HNGĐ-ST.
Ngày 28 - 12 - 2021.
V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Chuyết.

Ông Phạm Hồng Thái.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích T – Thư ký TAND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở làm việc Toà án nhân dân huyện Trực Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2021/TLST-HNGĐ ngày 18/10/2021 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/12/2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm 1985. Trú tại: Xóm 14 xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Anh Tạ Văn B, sinh năm 1983 (1984). Nơi ĐKHKTT: Xóm 14 xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

Hiện trú tại: Xóm 10 xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Chị T, anh B có đề nghị xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Hà Thị T trình bày:

Chị kết hôn với anh Tạ Văn B ngày 26 tháng 10 năm 2007 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ tại xóm 14 xã T, huyện T, tỉnh Nam Định từ cuối năm 2012 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị xin ly hôn anh B để yên tâm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Tạ Xuân D, sinh ngày 09 tháng 09 năm 2008. Hiện nay cháu D đang ở với chị. Khi ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh chị không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 08 tháng 12 năm 2021, anh Tạ Văn B trình bày:

Anh và chị Hà Thị T kết hôn ngày 26 tháng 10 năm 2007 có được đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường tại địa phương. Chị T đã tự bỏ về nhà bố mẹ đẻ từ cuối năm 2012 đến nay, không quan tâm đến anh.

Anh B có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh không đến Tòa án trình bày quan điểm do dịch Covid 19 phức tạp và do anh không biết chữ. Nay chị T có đơn xin ly hôn, anh B đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Tạ Xuân D, sinh ngày 09 tháng 09 năm 2008. Hiện nay cháu D đang ở với chị T. Khi ly hôn anh đồng ý để chị T nuôi dưỡng cháu D và chấp nhận việc chị T không yêu cầu anh cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do tình hình dịch Covid 19 nên chị T, anh B xin được xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, HĐXX đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70;71 BLTTDS.

Bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt để giải quyết, không xuất trình chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, đã vi phạm quy định về quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các điều 70; 72 BLTTDS.

Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án khi các đương sự có đề nghị xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 238 BLTTDS.

Về nội dung: Xét thấy vợ chồng chị T anh B sống ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56 và Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hà Thị T.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu được nuôi dưỡng con chung của chị T. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh B cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ: Anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị T phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Hội đồng xét xử nhận định, sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.

Chị T, anh B đều xin được vắng mặt tại phiên tòa do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt là đúng theo quy định tại Điều 238 BLTTDS.

Về tình cảm: Chị Hà Thị T và anh Tạ Văn B có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T huyện T tỉnh Nam Định ngày 26 tháng 10 năm 2007, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường, sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Chị T đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ cuối năm 2012 đến nay.

Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh B đã thực sự tan vỡ, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa. Anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2012 đến nay. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp với quy định của pháp luật được HĐXX chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Tạ Xuân D sinh ngày 09 tháng 09 năm 2008. Hiện nay cháu D đang ở với chị T. Khi ly hôn chị T đề nghị được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh B đồng ý với quan điểm của chị T.

Xét yêu cầu của các đương sự về việc nhận nuôi con chung và điều kiện của anh chị, HĐXX xét thấy: Hiện nay cháu D đang ở với chị T. Để đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng và ổn định việc học tập đối với con chung, HĐXX thấy cần giao cháu D cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Vì vậy chấp nhận yêu cầu được nuôi dưỡng con chung của chị T. Chấp nhận sự tự nguyện của chị về việc không yêu cầu anh B cấp dưỡng.

Về tài sản chung, công nợ: Các đương sự không đề nghị giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Chị Hà Thị T phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; 56; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Toà án:

1. Xử ly hôn giữa chị Hà Thị T và anh Tạ Văn B.

2. Về con chung: Giao chị Hà Thị T có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung Tạ Xuân D sinh ngày 09 tháng 09 năm 2008. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh B cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh Tạ Văn B có quyền , nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn ; không ai được cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Án phí: Chị Hà Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001856 ngày 18/10/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định được trừ vào số tiền án phí chị T phải nộp. Chị T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Chị Hà Thị T, anh Tạ Văn B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của BLTTDS.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ