vanban.org

Bản án 122/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 07/05/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
T A N NH N D N
T NH Đ N TH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2020/HS-PT
Ngày: 07-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC C NG HÒA XÃ H I CH N H A V T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH Đ NG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Nước

Các thẩm phán:

1- Ông Huỳnh Thanh Mỹ

2- Ông Lê Khắc Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy i - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 45/2020/TLPT-HS ngày 14 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Lê Văn T.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 103/2019/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lê Văn T, sinh năm 2000 tại tỉnh Đồng Tháp. HKTT: Tổ 15, Ấp 4, xã MT, TPCL, tỉnh ĐT; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn L và bà Huỳnh Thị C; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang tại ngoại và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

Bị hại không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.

N D N V N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa hôm nay, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 22/6/2019, Trịnh Minh Tuấn E ngồi sau xe môtô do Trịnh Vũ L điều khiển. Lê Văn T một mình điều khiển xe môtô chạy phía sau Tuấn E. Khi đến ngã tư cầu Hữu Nghị đường Mai Văn K vào khu dân cư Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp. Tuấn E thấy Nguyễn Lê Hưng T đang ngồi chơi với Lê Huỳnh Đ. Do trước đó Tuấn E và T không hài lòng vì T có hành vi chạy xe nẹt bô khi chạy xe qua mặt Tuấn E và Tiến nên Tuấn E kêu L dừng xe lại đi từ phía sau T, L thì ngồi trên xe không đi theo cùng, lúc này T đang ngồi trên xe môtô, Tuấn E dùng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt bên trái, Tiến thấy T Eđánh T thì dừng xe xông vào dùng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt và vùng đầu, dùng chân đạp vào người T. Đánh xong, Tuấn E và T về nhà. T bị thương tích được đưa đến Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp điều trị.

Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích 211/TgT ngày 04/7/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Lê Hưng T bị thương tích chấn thương vùng mặt gây gãy thành ngoài xoang hàm trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 13%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 103/2019/HS-ST ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân thành phố Cao Lãnh đã xử:

Tuyên bố các bị cáo Trịnh Minh Tuấn E và Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

………..

Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành hình phạt tù.

Ngoài ra,ánsơ thẩm còntuyênvềán phí vàquyền khángcáotheoluậtđịnh.

Ngày 19 tháng 11 năm 2019, bị cáo Lê Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu: Tòa án cấp sơ thẩm đã xử bị cáo T 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng qui định của pháp luật; giai đoạn phúc thẩm bị cáo có cung cấp Bằng Tổ quốc ghi công tên Nguyễn Văn Giàu nhưng không có xác nhận của chính quyền địa phương về mối quan hệ họ hàng như thế nào giữa liệt sĩ với bị cáo nên không xem đây là tình tiết giảm nhẹ mới cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng xin được hưởng án treo của bị cáo; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.

Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo không nói lời nói sau cùng.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và lời khai bị cáo.

NH N Đ NH C A T A N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo như sau: Vào khoảng 23 giờ ngày 22/6/2019 bị cáo Tiến thấy Tuấn E đánh T thì dừng xe xông vào dùng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt và vùng đầu, dùng chân đạp vào người T gây tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 13%. Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Văn T xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy. Mặc dù giữa bị cáo và bị hại trước đó không có xảy ra mâu thuẫn, nhưng chỉ vì nguyên cớ nhỏ là có lần bị hại đã chạy xe nẹt bô khi qua mặt bị cáo nên khi nhìn thấy bị hại thì bị cáo đã ngay tức khắc hành hung, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại. Từ đây đã thể hiện rõ bản chất côn đồ, coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, căn cứ tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Vì vậy, yêu cầu kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở để chấp nhận.

[3] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp nên chấp nhận.

[4] Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Lê Văn T phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Q YẾT Đ NH:

Căn cứ Điều 345, điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Văn T. Giữ nguyên Quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.

Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành hình phạt.

Các phần khác của quyết định bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nh n:

T TM. H Đ N X T X PH C TH M

- VKSND Tỉnh;

t

Cỡ chữ