vanban.org

Bản án 122/2020/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bà Bùi Thị C khởi kiện tranh chấp về hợp đồng với ông Lê Văn N, bà Trần Thị Lệ H và Lê Thị Huỳnh N"
  • Tòa quyết gì? quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 122/2020/DS-ST
Ngày: 25-8-2020
V/v tranh chấp về hợp đồng hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Thanh Tuấn;

2. Ông Trịnh Văn Bé.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Ông Tôn Văn Xuyên, Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179/2020/TLST-DS ngày 22

tháng 4 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử số 330/2020/QĐXX-ST ngày 15 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị C, sinh năm 1946; địa chỉ cư trú: tổ 13 ấp M,

xã M, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt;

2. Bị đơn:

2.1 Ông Lê Văn N, sinh năm 1968; địa chỉ cư trú: ấp M, xã M, huyện C,

tỉnh An Giang; vắng mặt;

2.2 Bà Trần Thị Lệ H, sinh năm 1972; địa chỉ cư trú: ấp M, xã M, huyện

C, tỉnh An Giang; có mặt.

3. Người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Huỳnh N, sinh năm

1989; địa chỉ cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, ản tự khai và các văn ản có trong hồ sơ vụ án

nguyên đơn trình ày như sau: Bà Bùi Thị C có làm chủ hai dây hụi: Dây số 1:

vào ngày 19/02(Âl)/2018, à có làm chủ dây hụi gồm 22 hụi viên, vợ chồng ông N, à H vô 01 đầu, đến lần khui thứ hai thì ông N, à H kêu con gái là Lê Thị Huỳnh N xuống ỏ hốt giá 1.370.000đồng, hốt được 178.600.000đồng, ông N à H phải đóng lại hụi chết là 20 lần nhưng chỉ đóng được 17 lần, còn 03 lần chưa chầu là 30.000.000đồng; Dây số 2: vào ngày 04/8(Âl)/2018, à có làm chủ dây hụi gồm 21 hụi viên, vợ chồng ông N, à H vô 01 đầu, ông N, à H kêu con gái là Lê Thị Huỳnh N xuống ỏ hốt giá 1.400.000đồng, hốt được 168.000.000đồng, ông N à H phải đóng lại hụi chết là 20 lần nhưng chỉ đóng được 13 lần, còn 07 lần chưa chầu là 70.000.000đồng. Như vậy, tổng số tiền nợ là 100.000.000đồng, việc chơi hụi có làm giấy hụi, khi giao tiền có làm iên nhận, vợ chồng ông N, à H và cháu Như có ký tên. Hiện tại các dây hụi đã mãn mà vợ chồng ông N, à H và cháu Như không trả nên khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn N, à Trần Thị Lệ H và Lê Thị Huỳnh N có nghĩa vụ liên đới trả cho số tiền hụi còn thiếu là 100.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bà Trần Thị Lệ H trình ày: theo yêu cầu khởi kiện của à Bùi Thị C, sinh

năm 1946; địa chỉ cư trú: tổ 13 ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; à xác định còn nợ của à C số tiền hụi là 100.000.000đồng; theo yêu cầu của à C thì à cùng chồng là Lê Văn N và con là Lê Thị Huỳnh N cùng trả thì vợ chồng à cùng với con đồng ý trả cho à số tiền 100.000.000đồng; xin được trả dần mỗi tháng là 3.000.000đồng cho đến khi dứt nợ.

Ông Lê Văn N đã được tống đạt Thông áo thụ lý vụ án, Thông áo về

phiên hòa giải nhưng không gửi văn ản ghi ý kiến về các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, à Lê Thị Huỳnh N trình ày: đồng ý cùng với cha mẹ là

ông Lê Văn N, à Trần Thị Lệ H trả số tiền hụi còn thiếu của à C là 100.000.000đồng; yêu cầu khấu trừ 02 ao gạo đã trả cho à C trị giá là 1.000.000đồng và xin được trả dần mỗi tháng là 3.000.000đồng; bà Bùi Thị C đồng ý khấu trừ 02 ao gạo đã trả cho à trị giá là 1.000.000đồng; đối với yêu cầu xin được trả dần mỗi tháng 3.000.000đồng thì không đồng ý.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát iểu ý kiến về việc

tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 282, 471 Bộ luật dân sự và Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của à Bùi Thị C; Buộc ông Lê Văn N, à Trần Thị Lệ H và Lê Thị Huỳnh N liên đới trả cho à Bùi Thị C số tiền 99.000.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Bùi Thị C khởi kiện tranh chấp về hợp đồng với ông Lê Văn N, à

Trần Thị Lệ H và Lê Thị Huỳnh N. Ông N, à H và à N có địa chỉ cư trú trên

địa àn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Căn cứ các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật

Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang thụ lý giải

quyết là đúng theo quy định.

Ông Lê Văn N vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa

lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt

theo quy định tại điểm khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Bùi Thị C khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Lê Văn N, bà Trần Thị

Lệ H và con là Lê Thị Huỳnh N trả số tiền hụi là 100.000.000đồng, căn cứ khởi

kiện là giấy giao hụi và ảng xác nhận nợ. Quá trình giải quyết vụ án ông N

không gửi ý kiến cho Tòa án về việc thụ lý vụ án; à H, à N thừa nhận có nợ số

tiền 100.000.000đồng, xin được trả dần mỗi tháng là 3.000.000đồng cho đến khi

dứt nợ; yêu cầu trả dần của à H, à N không được à C đồng ý và Hội đồng xét

xử không có căn cứ cho trả dần mà chỉ có thẩm quyền uộc trả tiền. Xét thấy

hợp đồng hụi được giao kết là hoàn toàn tự nguyện, có lập văn ản, các đương

sự thống nhất còn nợ số tiền, phù hợp với Điều 471 Bộ luật Dân sự 2015 nên

yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn à C là có căn cứ và được chấp nhận.

Tại phiên tòa, à Trần Thị Lệ H xác định, à với ông Lê Văn N là vợ

chồng và Lê Thị Huỳnh N là con; à Lê Thị Huỳnh N yêu cầu khấu trừ 02 ao

gạo đã trả cho à C trị giá là 1.000.000đồng, à Bùi Thị C đồng ý khấu trừ 02

ao gạo đã trả cho à trị giá là 1.000.000đồng. Đã có cơ sở xác định số tiền nợ

là 100.000.000đồng trừ đi số tiền đã trả là 1.000.000đồng, như vậy số tiền còn

lại phải hoàn trả là 99.000.000đồng. Căn cứ vào Điều 27 Luật Hôn nhân và gia

đình, cần uộc ông Lê Văn N, à Trần Thị Lệ H và con là Lê Thị Huỳnh N liên

đơi trả tiền.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 26, 35, 39, 147, 227 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các

Điều 282, 468 và 471 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ

phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn à Bùi Thị C và

xử như sau:

1) Buộc ông Lê Văn N, à Trần Thị Lệ H và con là Lê Thị Huỳnh N có

nghĩa vụ liên đới trả cho à Bùi Thị C số tiền hụi còn thiếu là 99.000.000đồng

(Bằng chữ: Chín mươi chín triệu đồng).

2) Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối

với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3) Về án phí: ông Lê Văn N, à Trần Thị Lệ H và con là Lê Thị Huỳnh N

có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự là 4.950.000đồng (Bằng chữ: Bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).

4) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự

có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn 15 ngày kể từ ngày ản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ