vanban.org

Bản án 122/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 10/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Diệu L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma

Xử phạt bị cáo Nguyễn Diệu L 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2019. Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động vỏ màu trắng, vàng đã cũ không ghi nhãn hiệu có số IMEI 863193033603944 đã thu giữ của bị cáo L (Theo biên bản giao n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Diệu L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2019/HS-ST
Ngày 10-9-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Lã Ngọc Tường

Ông Trần Huy Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hoàng Diệp– Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia

phiên tòa: Ông Đoàn Tuấn Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 414/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Diệu L- sinh ngày 26/11/1980, tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ 4b, phố S, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: nhân viên bảo vệ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Kim H; vợ và con: không; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 09 ngày 25/01/2015, TAND thành phố Việt Trì xử phạt 30 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2015, chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 18/12/2017; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2019, hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ, có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1966, trú tại tổ 4B, phố phố S, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 40 phút, ngày 19/6/2019, tại khu 10, phường G, thành phố V, Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bắt quả tang Nguyễn Diệu L, sinh năm 1980, trú tại tổ 4B, phố S, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, có hành vi tàng trữ 04 gói giấy cả hai mặt đều màu trắng, có dòng kẻ, bên trong có chất bột cục màu trắng, L khai nhận là ma túy Heroine vừa mua về để sử dụng và bán. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tiến hành niêm phong vật chứng là ma túy thu giữ được. Ngoài ra còn thu giữ vật chứng gồm: 02 xilanh nhựa màu trắng loại 3ml; 02 ống Novocain; 01 điện thoại di động màu trắng đã cũ không rõ nhãn hiệu kèm sim có số IMEI 863193033603944 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng-đen-bạc, BKS: 19B1 – 451.38.

Ngày 20/6/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt Trì đã khám xét khẩn cấp nơi ở của L thu giữ 01 lưỡi dao lam nhãn hiệu Croma; 01 xilanh nhựa loại 5ml chưa qua sử dụng và 01 ống Novocain.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Việt Trì đã tiến hành trưng cầu giám định số chất bột, cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Diệu L. Tại bản kết luận giám định số 725/KLGĐ ngày 25/6/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Mẫu chất bột cục màu trắng bên trong bì niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,354 gam, loại Heroine”.

* Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, số thứ tự 09, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Hoàn lại 0,269 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói đửi đến giám định.

Về nguồn gốc số ma túy, L khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 19/6/2019, L một mình điều khiển xe mô tô BKS: 19B1 – 451.38 xuống khu vực sân bóng thuộc phường N, thành phố Y, Vĩnh Phúc gặp một nam giới không rõ lai lịch mua được 02 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy hai mặt đều màu trắng có dòng kẻ với giá 900.000 đồng. Sau khi mua được ma túy L dùng móng tay tách mỗi gói ma túy ra một ít, chia thành 04 gói nhỏ, gói lại bằng giấy gói ban đầu, sau đó đi về thành phố Việt Trì để bán với giá 250.000 đồng/gói. Khi tới khu vực gần Ngân hàng TMCPQuân đội, L dừng xe lại thì bị bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Bản Cáo trạng số: 123/CT-VKS-VT ngày 13 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Diệu L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, không bổ sung hoặc thay đổi nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Diệu L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” .

Về hình phạt chính: Áp dụng Khoản 1, 5 Điều 251; điểms khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Diệu L từ 33(ba mươi ba) tháng tù đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2019.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay xác định bị cáo sống cùng em trai, bị cáo chỉ có 01 điện thoại di động màu trắng đã cũ không rõ nhãn hiệu có số IMEI 863193033603944 là tài sản, ngoài ra bị cáo không có tài sản gì khác có giá trị ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu cá nhân nên cần tịch thu tài sản trên của bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 bì niêm phong có số 725/KLGĐ củaPhòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong có 0,269 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, 01 sim điện thoại trong chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo L, 02 xilanh nhựa màu trắng chưa qua sử dụng loại 3ml, 03 ống Novocain; 01 lưỡi dao lam nhãn hiệu Croma đã cũ; 01 xilanh nhựa loại 5ml chưa qua sử dụng;

+ Xác nhận cơ quan điều tra đã trả cho ông Nguyễn Văn M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng-đen-bạc, BKS: 19B1 – 451.38.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Việt Trì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố Tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đúng thời hạn do pháp luật quy định nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung:

Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Diệu L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đều thống nhất, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 19 giờ 40 phút, ngày 19/6/2019, tại khu 10, phường Gia Cẩm, thành phố Việt Trì, Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bắt quả tang Nguyễn Diệu L, có hành vi tàng trữ 04 gói ma túy Heroine có tổng khối lượng là 0,354 gam có mục đích để sử dụng và nhằm để bán.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, nội dung điều luật quy định:

Tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.

Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên bị cáo phải chịu hậu quả về hành vi phạm tội của mình.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần mức hình phạt tù cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự: “5. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay xác định bị cáo sống cùng em trai, bị cáo chỉ có 01 điện thoại di động màu trắng đã cũ không rõ nhãn hiệu kèm sim có số IMEI 863193033603944, ngoài ra bị cáo không có tài sản gì khác có giá trị ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu cá nhân nên cần tịch thu tài sản trên của bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

- Ma túy là vật nhà nước cấm lưu hành, vì vậy cần tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong có số 725/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong có 0,269 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định

- Đối với 01 sim điện thoại trong chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo L, 02 xilanh nhựa màu trắng chưa qua sử dụng loại 3ml, 03 ống Novocain; 01 lưỡi dao lam nhãn hiệu Croma đã cũ; 01 xilanh nhựa loại 5ml chưa qua sử dụng không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe mô tô BKS: 19B1 – 451.38, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay xác định chiếc xe là của ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1966, trú tại tổ 4B, phố S, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ là chú của L. Ông M không biết L sử dụng xe đi mua ma tuý. Do vậy, Cơ quan điều tra Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ không đề cập xử lý và đã ra quyết định trả chiếc xe lại cho ông Nguyễn Văn M là hợp pháp.

Về nguồn gốc số Ma túy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận mua ma túy của một người không rõ tên tuổi tại phường N, thành phố Y, Vĩnh Phúc nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Việt Trì chưa đủ căn cứ để điều tra là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Diệu L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Diệu L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma

túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Diệu L 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2019.

Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động vỏ màu trắng, vàng đã cũ không ghi nhãn hiệu có số IMEI 863193033603944 đã thu giữ của bị cáo L (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2019 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Việt Trì và Chi cục Thi hành án thành phố Việt Trì).

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong có số 725/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong có 0,269 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, 01 sim điện thoại trong chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo L, 02 xilanh nhựa màu trắng chưa qua sử dụng loại 3ml, 03 ống Novocain; 01 lưỡi dao lam nhãn hiệu Croma đã cũ; 01 xilanh nhựa loại 5ml chưa qua sử dụng;

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2019 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Việt Trì và Chi cục Thi hành án thành phố Việt Trì).

- Xác nhận cơ quan điều tra đã trả cho ông Nguyễn Văn M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng-đen-bạc, BKS: 19B1 – 451.38.

(Theo biên bản về việc trả lại đồ vật tài sản ngày 31/7/2019 của Cơ quan điều tra Công an thành phố Việt Trì).

3. Về án phí:

Buộc bị cáo Nguyễn Diệu L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ