- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lô Đình Tr - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lô Đình Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật hình sự mới; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2019/HS-ST Ngày 02-12-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lại.
Ông Nguyễn Quang Kim.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Minh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Công - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lô Đình Tr, sinh năm 1994; Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: Thôn H, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 9/12. Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Bố đẻ: Lô Đình P9- sinh năm 1954; Mẹ đẻ: Hồ Thị Ng9- sinh năm 1960; Vợ: Lê Thị Ph- sinh năm 1998; Con: có 01 con sinh năm 2018;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 12/7/2019. Thay thế biện pháp ngăn chặn ngày 15/7/2019, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Công ty T Việt Nam thuộc khu Công Nghiệp Đ, huyện V.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Trần Hữu T, sinh năm 1985 (Có mặt).
Trú quán: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Lê Thị Ph – sinh năm 1988 (Có mặt).
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nơi ở: Thôn H, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang
2. Anh Lô Đình T, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Người làm chứng:
1. Anh Phạm Văn L – sinh năm 1997 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
2. Anh Thái Đức A – Sinh năm 1983 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5/2019, Lô Đình Tr, sinh năm 1994, hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An đến làm công nhân công ty T Việt Nam thuộc Khu Công Nghiệp Đ, huyện V và tạm trú tại thôn H, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Trong quá trình làm việc tại xưởng sản xuất số 5, Tr nảy sinh ý định trộm cắp linh kiện điện thoại Sam sung A205, gồm: xương, màn hình (Front, Octa) mang đi bán lấy tiền chi tiêu. Để chuẩn bị cho việc trộm cắp, Tr chuẩn bị: 01 main, 01 ốp lưng và 01 pin từ điện thoại Sam sung Galaxy A205 hỏng của mình đem vào công ty, mục đích dùng những linh kiện này, lắp ráp với các linh kiện của công ty thành một chiếc điện thoại hoàn chỉnh đem các linh kiện trộm cắp ra ngoài nhằm tránh sự phát hiện của bảo vệ.
Khoảng 20 giờ ngày 10/7/2019, Tr đến làm việc tại xưởng số 5 và đem theo 01 main, 01 ốp lưng và 01 cục pin, đút ở túi quần phải chờ cơ hội thực hiện hành vi trộm cắp. Tại đây, Tr vừa làm vừa quan sát, khi thấy không có người để ý thì lấy trộm từng xương, màn hình điện thoại Sam sung galaxy A205 lắp vào các linh kiện đã chuẩn bị trước đó thành một chiếc điện thoại hoàn chỉnh, bật nguồn cho màn hình điện thoại sáng rồi đem đến nhà vệ sinh ở bên ngoài xưởng. Tại đây, Tr tháo các linh kiện đã trộm cắp được đem đến cất giấu tại tủ đồ cá nhân của mình rồi đem các linh kiện chuẩn bị trước quay lại xưởng tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp. Trong ca làm việc của mình (từ 22 giờ ngày 10/7/2019 đến đến khoảng 03 giờ ngày 11/7/2019), với thủ đoạn như trên Tr đã thực hiện 05 lần trộm cắp, chiếm đoạt được 05 bộ linh kiện điện thoại gồm xương, màn hình điện thoại Sam sung Galaxy A205 của xưởng sản xuất số 5 đem đến cất dấu tại tủ đồ cá nhân của mình.
Khoảng 05 giờ ngày 11/7/2019, sau khi hết giờ làm việc Tr đi ra tủ đồ cá nhân của mình lấy chiếc điện thoại lắp linh kiện trộm cắp được đút vào túi quần bên phải, lấy 04 bộ linh kiện điện thoại gồm xương, màn hình điện thoại Sam sung Galaxy A205 trộm cắp được trước đó giấu vào túi đựng áo mưa của mình đem đến để vào cốp xe mô tô Sirius, biển kiểm soát 37 H1-01851 của mình rồi dắt xe ra về. Khi Tr ra khỏi cổng công ty thì anh Thái Đức A, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (là bạn cùng Công ty) rủ đi ăn sáng, Tr kiểm tra thì phát hiện quên ví trong tủ đồ cá nên nhờ anh Đức A trông xe hộ để đi vào lấy ví. Sau khi lấy ví, Tr đi bộ ra cổng thì bị bảo về Công ty là anh Phạm Văn L, sinh năm 1997, trú tại thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa yêu cầu kiểm tra điện thoại nên Tr lấy chiếc điện thoại có lắp linh kiện trộm cắp đưa cho anh L. Trong lúc anh L kiểm tra điện thoại, Tr đi ra ngoài cổng, mở cốp xe mô tô của mình lấy túi áo mưa có đựng 04 bộ linh kiện điện thoại trộm cắp nhờ anh Đức A đem về cho vợ mình là chị Lê Thị Ph nhưng không nói bên trong túi đựng tài sản trộm cắp. Anh L kiểm tra điện thoại thì phát hiện 01 điện thoại không có chân sạc, không lên nguồn và nghi ngờ Tr trộm cắp của công ty nên báo cáo trưởng phòng nhân sự của Công ty là cho anh Trần Hữu T, sinh năm 1985, trú tại thôn Đồng Niên, xã Tự Lạn, huyện Việt Yên. Lúc này, Tr thừa nhận hành vi trộm cắp và nhờ anh T thông báo cho mình đem 04 bộ linh kiện điện thoại cất giấu trong túi đựng áo mưa đến trả lại Công ty. Sau đó, Tr đưa anh T về phòng trọ để tìm bộ linh kiện điện thoại còn lại thì phát hiện tại thùng rác của nhà trọ 01 màn hình điện thoại Sam sung galaxy A205 đã bị rạn vỡ nên đem về công ty rồi trình báo Công an đồn Quang Châu để xử lý theo quy định. Tại công ty, Teayang, Tr viết đơn xin đầu thú đồng thời tự nguyện giao nộp: 01 bộ linh kiện điện thoại Sam sung galaxy A205 (gồm xương, màn hình điện thoại); 01 main, 01 cục pin, 01 ốp lưng điện thoại; 01 điện thoại Sam sung galaxy S9 và 01 xe mô tô Sirius, biểm kiểm soát: 37H1-018.51.
Cùng ngày 11/7/2019, Công an Đồn Quang Châu đã bàn giao Tr cùng vật chứng có liên quan cho Công an huyện Việt Yên.
Ngày 12/7/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên khám xét khẩn cấp nơi ở của Tr tại thôn H, xã H, huyện V và thu giữ 01 túi đựng áo mưa có chữ “Tuấn Hảo”, bên trong túi đựng 01 áo mưa màu đỏ và 01 bộ linh kiện điện thoại (gồm xương, màn hình điện thoại Sam sung Galaxy A205)
Ngày 12/7/2019, anh Trần Hữu T, đại diện theo ủy quyền công ty Tea yang giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên 03 bộ linh kiện điện thoại Sam sung Galaxy A205 (gồm xương, màn hình điện thoại do chị Ph giao nộp cho công ty), 01 màn hình điện thoại Sam sung galaxy A205 đã bị rạn vỡ.
Ngày 02/8/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên định giá và kết luận: 05 bộ linh kiện điện thoại Sam sung galaxy A205 Tr trộm cắp trị giá 7.000.000đồng (mức 1.400.000đồng/01 bộ).
Bản Cáo trạng số 123/CT-VKS ngày 19/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy đã tố bị cáo Lô Đình Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Lô Đình Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lô Đình Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lô Đình Tr từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo mưa màu đỏ, 01 túi đựng áo mưa, 01 màn hình điện thoại Sam sung Galaxy A205 đã bị dạn vỡ.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 main, 01 cục pin, 01 ốp lưng điện thoại.
Trả lại bị cáo Lô Đình Tr: 01 điện thoại Sam sung Galaxy S9. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí, buộc bị cáo Lô Đình Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của họ và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:
Lô Đình Tr, sinh năm 1994, hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, chỗ ở: thôn H, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang là công nhân công ty T Việt Nam chuyên sản xuất linh kiện điện thoại di động có địa chỉ ở Khu Công Nghiệp Đ huyện V. Trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày 10/7/2019 đến đến khoảng 03 giờ ngày 11/7/2019, Tr đã 05 lần liên tụclấy trộm tổng cộng 05bộ linh kiện điện thoại Sam sung galaxy A205 (gồm xương, màn hình điện thoại), trong đó mỗi lần trộm 01 bộ ở xưởng số 5 của công ty mang ra tủ đồ cá nhân của mình cất giấu. Đến 05 giờ ngày 11/7/2019, Tr mang toàn bộ linh kiện điện thoại trộm cắp ra khỏi công ty để mang về bán thì bị công ty phát hiện sau đó Tr đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình. Tổng trị giá 05 bộ linh kiện điện thoại Sam sung galaxy A205 Tr trộm cắp trị giá 7.000.000đồng (mức 1.400.000đồng/01 bộ).
Như vậy hành vi của Lô Đình Tr đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bản Cáo trạng số 123/CT-VKS ngày 19/11/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên và bản Luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tại phiên tòa đã truy tố bị cáo Lô Đình Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan đối với bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự công cộng, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Với hành vi phạm tội của bị cáo, sau khi được phân tích và đánh giá tính chất, mức độ của hành vi bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng đối với bị cáo một hình phạt theo Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục bị cáo.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú và mang toàn bộ tài sản trả cho bị hại; bố bị cáo bị nhiễm chất độc hoá học và được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người dân tộc, vợ mới sinh con, bị cáo sau khi trộm cắp tài sản đã bị công ty sa thải, không có tài sản gì giá trị nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trả lại bị hại, nay bị hại không yêu cầu bồi thường dân sự. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với 01 xe mô tô Sirius, biển kiểm soát 37H1-01851 là tài sản của anh Lô Đình T, sinh năm 1986 (anh trai Tr) cho bị cáo mượn đi làm, không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên không đề cập xử lý và trả lại xe cho anh T vào ngày 07/11/2019 là có căn cứ.
Đối với anh Thái Đức A không biết Tr trộm cắp linh kiện điện thoại của công ty giấu trong túi áo mưa đưa cho anh mang về cho vợ Tr và chị Lê Thị Ph (vợ Tr) khi nhận túi áo mưa từ anh Đức A cũng không biết trong túi đựng tài sản trộm cắp, ngay sau khi phát hiện đã mang trả lại công ty nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên không đề cập xử lý.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 áo mưa màu đỏ, 01 màn hình điện thoại Sam sung Galaxy A205 đã bị dạn vỡ là tài sản của bị cáo không dùng vào việc phạm tội, bị cáo đề nghị tiêu hủy, 01 túi đựng áo mưa là đồ vật bị cáo dùng vào việc phạm tội nhưng không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 main, 01 cục pin, 01 ốp lưng điện thoại là công cụ để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, các tài sản này còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với 01 điện thoại Sam sung Galaxy S9 là của bị cáo Tr, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Buộc bị cáo Lô Đình Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lô Đình Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lô Đình Tr 07 (Bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lô Đình Tr cho Ủy ban nhân dân xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo mưa màu đỏ, 01 túi đựng áo mưa, 01 màn hình điện thoại Sam sung Galaxy A205 đã bị dạn vỡ.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 main, 01 cục pin, 01 ốp lưng điện thoại.
Trả lại bị cáo Lô Đình Tr: 01 điện thoại Sam sung Galaxy S9. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lô Đình Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Việt Yên; - Chi cục THADS huyện Việt Yên; - Công an huyện Việt Yên; - Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Lưu: HS+VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Ngô Văn Quang |