- Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "tranh chấp tiền lương"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Trần Thị Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2018/LĐ-ST Ngày: 26/11/2018 V/v Tranh chấp về tiền lương. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Lệ Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị Giang – Cán bộ hưu trí.
2. Ông Mai Ngọc Thuần – Phó trưởng Liên đoàn lao động quận Bình Tân.
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Trúc Ly – Là thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bạch Ngọc Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 18/2018/TLST-LĐ, ngày 03 tháng 5 năm 2018, về “Tranh chấp tiền lương” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 474/2018/QĐXXST-LĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 275/2018/QĐST-LĐ, ngày 05 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh H; Sinh năm: 1989; Hộ khẩu thường trú: Ấp LT, xã TM, huyện VT, thành phố Cần Thơ; Địa chỉ liên hệ: E12/22A Ấp 5, xã VLA, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Thị L; Sinh năm: 1978; Hộ khẩu thường trú: 107/16 NNT, P 2, Q 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Công ty TNHH BJV; Trụ sở: Lô B28/I-B29/I, đường 2B, khu công nghiệp VL, phường BHHB, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Park Kye H; Chức danh: Tổng giám đốc. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 602736-5 G-D G-S, Hàn Quốc. Tạm trú: 710 Chung cư TA, KP 5, phường ĐHT, Q 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người làm chứng: Bà Dương Thị Th; Sinh năm: 1970; Địa chỉ: 29/7E QT, P 8, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do, người làm chứng có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn – Bà Trần Thị Thanh H trình bày tại đơn khởi kiện và Bà Phan Thị L là đại diện theo ủy quyền của Bà H trình bày tại bản tự khai, tại biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại các biên bản hòa giải như sau:
Bà Trần Thị Thanh H là người lao động làm việc tại Công ty TNHH BJV từ ngày 16/12/2017 chưa chính thức ký hợp đồng lao động. Đến tháng 02/2018 thì Công ty TNHH BJV đã ngừng hoạt động, vì người sử dụng lao động không có mặt tại doanh nghiệp. Công ty TNHH BJV còn nợ tiền lương và tiền thưởng tháng 13 của Bà H. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho Bà H, Bà H khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH BJV phải thanh toán tiền lương tháng 02/2018 (09 ngày lương) là 2.840.715 đồng và tiền lương tháng 13 của năm 2017 là 205.900 đồng. Tổng cộng số tiền yêu cầu là 3.046.615 đồng. Ngày 05/10/2018 nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối yêu cầu thanh toán tiền lương tháng 13 của năm 2017 số tiền là 205.900 đồng.
Bị đơn – Công ty TNHH BJV: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập Công ty TNHH BJV đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng Công ty TNHH BJV đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã phối hợp cùng với chính quyền địa phương trực tiếp đến trụ sở của Công ty TNHH BJV để thực hiện việc tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và giấy triệu tập cũng như các văn bản tố tụng khác nhưng Công ty TNHH BJV đã đóng cửa, ngưng hoạt động nên không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
Tại phiên tòa hôm nay,
Nguyên đơn – Bà Trần Thị Thanh H có Bà Phan Thị L là đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn - Công ty TNHH BJV đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do.
Người làm chứng: Bà Dương Thị Th có đơn xin vắng mặt.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Vụ án thụ lý đúng thẩm quyền, còn thời hiệu khởi kiện, xác định đúng quan hệ tranh chấp. Tuy nhiên về thời hạn xét xử chưa được đảm bảo theo các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn vắng mặt không có lý do.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu thanh toán tiền lương tháng 13 của năm 2017 số tiền là 205.900 đồng và chấp nhận yêu cầu còn lại của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa nguyên đơn - Bà Trần Thị Thanh H với bị đơn - Công ty TNHH BJV là tranh chấp tiền lương theo quy định tại khoản 1 Điều 32 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo kết quả xác minh của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh thì Công ty TNHH BJV có trụ sở tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh và chưa đăng ký giải thể nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh theo điểm c khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Vụ án thuộc trường hợp Viện Kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thời hiệu khởi kiện: Xét theo lời trình bày của nguyên đơn Bà Trần Thị Thanh H thì Công ty TNHH BJV đã ngừng sản xuất và ngừng hoạt động vào khoảng tháng 02 năm 2018, vì vậy tháng 4 năm 2018 Bà H đã có đơn yêu cầu hòa giải tại Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quận Bình Tân để tranh chấp về tiền lương, đến tháng 05 năm 2018 Bà H chính thức khởi kiện ra Tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 202 Bộ luật lao động năm 2012, đơn của bà Hường còn trong thời hiệu khởi kiện.
Về điều kiện khởi kiện: Nguyên đơn khởi kiện có tranh chấp về tiền lương nên đây là tranh chấp thuộc trường hợp phải thông qua thủ tục hòa giải trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 201 Bộ luật lao động năm 2012 và Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ vào biên bản hòa giải không thành về tranh chấp lao động ngày 17/4/2018 tại Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Bình Tân thì nguyên đơn đủ điều kiện khởi kiện.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có yêu cầu xin được vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án. Đối với bị đơn Công ty TNHH BJV đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Người làm chứng trong vụ án đã có lời khai trực tiếp với Tòa án và có đơn xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt người làm chứng.
Mặc dù Tòa án đã nhiều lần triệu tập Công ty TNHH BJV đến Tòa để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật nhưng Công ty TNHH BJV vẫn vắng mặt không có lý do. Có nghĩa là, bị đơn đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử lấy yêu cầu khởi kiện, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xem xét giải quyết vụ án.
Về việc tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu thanh toán tiền lương tháng 13 của năm 2017 số tiền là 205.900 đồng của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên chấp nhận.
Về nội dung tranh chấp: Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy rằng:
Đối với yêu cầu thanh toán 09 ngày lương của tháng 02/2018 số tiền là 2.840.715 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời khai của Bà H thì bà mới vào làm tại Công ty TNHH BJV từ tháng 12/2017 chưa được ký hợp đồng lao động thì công ty đã ngừng hoạt động. Số tiền lương mà Công ty TNHH BJV còn nợ bà là 2.840.715 đồng nên bà khởi kiện để yêu cầu số tiền này. Bà không có chứng cứ gì để nộp cho Tòa chỉ có chứng cứ là bảng lương do kế toán trưởng của công ty xác nhận và cũng không chứng minh được thời gian làm việc trong tháng 02/2018. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của người làm chứng là Bà Dương Thị Th là kế toán trưởng của Công ty TNHH BJV thì thời gian làm việc và số tiền lương khớp với lời khai của Bà H. Và căn cứ vào bảng tính lương chuyền 4 của Công ty TNHH BJV có xác nhận của kế toán trưởng thì số tiền lương của Bà H trong 09 ngày làm việc của tháng 02 năm 2018 là 2.480.715 đồng. Phía bị đơn - Công ty TNHH BJV mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có bất cứ ý kiến nào phản đối các yêu cầu đòi tiền lương của nguyên đơn, điều này cho thấy Công ty TNHH BJV đã từ bỏ quyền phản đối của mình đối với yêu cầu của bà Hường. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Công ty TNHH BJV phải thanh toán cho Bà Trần Thị Thanh H số tiền lương 09 ngày làm việc trong tháng 02 năm 2018 là 2.840.715 đồng.
Trước đây, bà Trần Thị Thanh Hường có yêu cầu Công ty TNHH BJV trả tiền lương tháng 13 của năm 2017 số tiền là 205.900 đồng nay Bà H có đơn xin rút yêu cầu này, nên đình chỉ xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thấy rằng, các ý kiến và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình thức và nội dung là phù hợp quy định của pháp luật, nên chấp nhận. Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc hồ sơ vi phạm thời hạn xét xử, do hồ sơ có thu thập chứng cứ nên thời gian giải quyết vụ án kéo dài, do đó đã vi phạm thời hạn xét xử.
Án phí lao động sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, Công ty TNHH BJV phải nộp. Bà Trần Thị Thanh H không phải nộp án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 90, Điều 96, khoản 1 Điều 201 và khoản 2 Điều 202 Bộ luật lao động năm 2012;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Trần Thị Thanh H.
2. Buộc Công ty TNHH BJV phải thanh toán cho Bà Trần Thị Thanh H số tiền lương tháng 02 năm 2018 (09 ngày) là 2.840.715 đồng. Trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán đủ số tiền như đã nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố. Khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không quy định trần lãi suất, thì được tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng của Ngân hàng thương mại, nơi bị đơn mở tài khoản giao dịch thông báo tại thời điểm trả lương, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
3. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh H về việc yêu cầu Công ty TNHH BJV phải thanh toán tiền lương tháng 13 năm 2017 số tiền là 205.900 đồng.
4. Án phí lao động sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, Công ty TNHH BJV phải nộp. Bà Trần Thị Thanh H không phải nộp án phí.
Các đương sự thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5. Quyền và thời hạn kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND cùng cấp; -TAND TP.Hồ Chí Minh; -CCTHADS quận Bình Tân; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Lệ Hoa |