- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Trại tạm giam Công an TP. Đà Nẵng;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2018/HSST Ngày: 16-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vũ. Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Lâm
Bà Lê Thúy Nguyệt
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Chức vụ: Thư ký Tòa án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách – Chức vụ: Kiểm sát viên. Ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 124/2018/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Thành D - Sinh ngày: 12.12.1981, tại thành phố Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ 54, phường T, quận T, TP. Đà Nẵng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Nguyễn Hồng C (chết) và bà Huỳnh Thị Tuyết N (sống) Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; Vợ Đặng Thị Bảo Q và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2011. Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08.8.2018. Có mặt.
- Người bị hại: Anh Nguyễn Quốc D, sinh năm:1979; Nơi cư trú: 22 đường A, phường M, quận N. TP. Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Khu VH&DL K; Địa chỉ: 404 đường Đ, phường T, quận T, TP. Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật bà Đỗ Thị Thu T - Chức vụ: Gíam đốc. Người dại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị Phương T- Nhân viên phụ trách quầy lưu niệm Khu VH&DL K. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong 2 ngày 21/6/2018 và 05/8/2018, Nguyễn Thành D đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn quận T, thành phố Đà Nẵng cụ thể: Vụ thứ nhất: Vào tối ngày 20/ /2018 Nguyễn Thành D đưa bạn là Hoàng Lê Minh V vào bệnh viện Hoàn M , TP. Đà Nẵng để cấp cứu. Đến khoảng 02 giờ đêm 21/6/2018, D đi bộ sang phòng 1418 (phòng bên cạnh), khi mở cửa phòng thấy trong phòng có 0 người đang ngủ và phát hiện trên tủ đựng vật dụng cạnh giường bệnh có một chiếc máy tính bảng hiệu Ipad Air2 của anh Nguyễn Quốc D đang cắm sạc nên nảy sinh ý định trộm cắp. Lợi dụng lúc anh D đang ngủ, D lén lút lấy chiếc máy tính bảng này giấu vào trong người rồi đi về nhà. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, anh Nguyễn Quốc D đã trình báo vụ việc lên Công an phường T, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Qua trích xuất Camera tại bệnh viện Hoàn M phát hiện camera an ninh có lưu tr đoạn video ghi lại quá trình xảy ra vụ trộm cắp tài sản vào lúc 02 giờ 04 phút đêm 21/6/2018. Đến ngày 2 / /2018 do sợ bị phát hiện, Nguyễn Thành D đã liên lạc và trả lại chiếc máy tính bảng đã trộm cắp cho anh Nguyễn Quốc D. Vật chứng tạm gi : 01 máy tính bảng nhãn hiệu Ipad Air 2, màu vàng . Theo Bản kết luận định giá tài sản ngày 30/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS Q. Thanh Khê xác định giá trị của chiếc máy tính bảng nói trên là 7.600.000đ Vụ thứ 2: Vào khoảng 2 h đêm 05/8/2018, D đi đến khu văn hóa và du lịch “K” tại 404 đường Đ, phường T, quận T, TP. Đà Nẵng, đến nơi D phát hiện tại quầy bán hàng lưu niệm có một tủ kính bên trong có nhiều vòng đeo tay bằng chất liệu gỗ trầm có mạ vàng, D nảy sinh ý định trộm cắp, do tủ không khóa và lợi dụng lúc không có ai trông coi nên D đã lén lút lấy trộm 20 (hai mươi) vòng đeo tay. Sau khi có được số tài sản trên, D cho Lương Duy T 01 vòng, còn lại D cất gi . Sau khi phát hiện bị mất tài sản, chị Nguyễn Thúy N đã trình báo vụ việc lên cơ quan Công an. Qua truy xét, cơ quan điều tra xác định Nguyễn Thành D là đối tượng đã lấy trộm số tài sản này. Tại cơ quan điều tra, D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp lại 19 vòng đeo tay. Tiến hành làm việc với Lương Duy T, cơ quan điều tra đã thu gi được 01 vòng đeo tay còn lại. Vật chứng tạm gi : 20 (hai mươi) vòng đeo tay bằng gỗ. Theo kết luận định giá tài sản ngày 19/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS Q. Thanh Khê xác định 20 vòng đeo tay bằng gỗ có tổng giá trị là 29.900.000đ. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Thành D đã trộm cắp là 7.500.000đ (ba mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành D thừa nhận hành vi phạm tội của mình, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê truy tố, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đưa ra xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng tội, đúng pháp luật. Tại bản cáo trạng số: 124/CT-VKS ngày 19 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ Luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn gi nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị HĐXX: + Áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; điểm b,s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Thành D từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Ngày 18 tháng 9 năm 2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng trả lại 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Ipad Air 2, màu vàng cho anh Nguyễn Quốc D là chủ sở h u hợp pháp; trả lại 20 (hai mươi) vòng đeo tay bằng gỗ cho chị Đinh Thị Phương T là đại diện theo ủy quyền của Khu văn hóa và du lịch “K” là có căn cứ, nên không xem xét giải quyết. + Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho các bị hại và nh ng người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm, do đó không xem xét giải quyết. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thật sự biết ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐINH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành rố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Xét về hành vi phạm tội: Vào ngày 21/6/2018 và ngày 05/8/2018, tại Bệnh viện Hoàn M và khu văn hóa và du lịch “K” thuộc quận T, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Thành D đã có hành vi lén lút thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể: Trộm cắp của anh Nguyễn Quốc D một máy tính bảng Ipad Air 2 có giá trị 7. 00.000 đồng; trộm cắp của khu văn hóa và du lịch “K” 20 vòng đeo tay bằng gỗ trầm mạ vàng có giá trị 29.900.000 đồng. Tổng giá trị tài sản D trộm cắp là 7.500.000đ (ba mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. [3] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo Nguyễn Thành D nhận thức được việc xâm phạm đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với bản tính lười lao động muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài để thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật để phạm tội. Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở h u tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xét xử với mức án thật nghiêm minh để có tính chất giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.
- Về nhân thân; tiền án; tiền sự: Căn cứ vào trích lục tiền án, tiền sự của Phòng hồ sơ Công an thành phố Đà Nẵng và lý lịch bị cáo thể hiện, bị cáo chưa từng có tiền án , tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Thành D đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báó, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị phát hiện bị cáo đã mang tài sản trả lại cho nh ng người bị hại là thuộc trường hợp phạm tội nhưng gây thiệt hại và người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h,s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật hình sự sẽ được HĐXX xem xét áp dụng cho bị cáo. [4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê đã trả lại 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Ipad Air 2, màu vàng cho anh Nguyễn Quốc D là chủ sở h u hợp pháp; trả lại 20 (hai mươi) vòng đeo tay bằng gỗ cho chị Đinh Thị Phương T là đại diện theo ủy quyền của Khu văn hóa và du lịch “K” là có căn cứ, nên HĐXX không xem xét giải quyết. [5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và nguyên đơn dân sự đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, do đó HĐXX không xem xét gaiả quyết. [6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành D phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ quốc hội. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội “Trộm cắp tài sản" 1/ Áp dụng: Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; điểm h,s khoản 1,2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thành D 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08.8.2018. 2/ Về án phí: Áp dụng Điều 23Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội; Tuyên xử: Buộc bị cáo Nguyễn Thành D phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. 3/ Án xử sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại và nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết kết quả xét xử tại nơi cư trú./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Thành phố Đà Nẵng
- VKSND quận Thanh Khê;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Công an quận Thanh Khê;
- Chi cục THA quận Thanh Khê;
- Bị cáo, người bị hại;
- Nguyên đơn dân sự
- Lưu hồ sơ vụ án
Nguyễn Hoàng Vũ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Vào hồi …… giờ …….. phút, ngày 16 tháng 111 năm 2018; Tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vũ Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Lâm
Bà Lê Thúy Nguyệt
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2018/TLST-HS ngày 24/10/2018, đối với bị cáo: Căn cứ vào điều 199 và điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
Vụ án không trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ Các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thấp; bị cáo và người tham gia tố tụng khác cung cấp được công khai tại phiên tòa. Bị cáo, người bị hại đều thừa nhận, không có ý kiến và khiếu nại gì đối với các chứng cứ, tài liệu trên. Do đó, các chứng cứ, tài liệu được thu thập trong quá trình tranh tung tại Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát đều là hợp pháp. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. 1.Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Thành Danh phạm tội “Trộm cắp tài sản" Biểu quyết: / . 2. Về điều luật áp dụng: 1/ Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm điểm h,s khoản 1,2 Điều 51; điểm p khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Biểu quyết: 3/3. 3. Về hình phạt: Xử phạt: Nguyễn Thành Danh.............................năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08.8.2018. Biểu quyết: / . 5. Về án phí: Áp dụng Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ quốc hội; Bị cáo Nguyễn thành Danh phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm. 6/ Án xử sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại và nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết kết quả xét xử tại nơi cư trú./. Biểu quyết: 3/3. Nghị án kết thúc vào hồi........giờ.............phút, ngày 16 tháng 11 năm 2018 Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN THANH KHÊ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TP. ĐÀ NẴNG
Thanh Khê, ngày 16 tháng 11 năm 2018
Số: /2018/HSST-QĐTG
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vũ Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Lâm
Bà Lê Thúy Nguyệt
Căn cứ vào các điều 109, 11 , 119 và 29 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 1 /11/2018 của Hội đồng xét xử sơ thẩm; Xét thấy: Cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án;
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1 Tạm giam bị cáo: Nguyễn Thành Danh - Sinh ngày: 12.12.1981, tại thành phố Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ 54, phường Thạc Gián, quậnThanh Khê, thành phố Đà Nẵng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe. Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt ..................... năm tù về tội "Trộm cắp tài sản”; Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án ngày 16/11/2018. Điều 2. Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Trại tạm giam Công an TP. Đà Nẵng; - VKSND quận Thanh Khê; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Vũ |