- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trắc H, Nguyễn Phú T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số:122 /2018/HSST Ngày:22 /08/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Víi thµnh phÇn héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Văn Nghiêm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Thành
Ông Trần Văn Huy
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương - Cán bộ Tòa
án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia
phiên toà: Bà Phạm Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 08 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì -TP. Hà
Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 123/2018/HSST ngày 23/07/2018 đối với bị
cáo:
Nguyễn Trắc H, sinh ngày 1985; HKTT và nơi ở: Xóm 4, thôn H, xã T, huyện V,
tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt
Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Trắc H1; con bà Đinh Thị N;
Tiền án, tiền sự: Có 01 tiền án đã xóa. Bị cáo bị bắt ngày 28/02/2018 - Có mặt.
Nguyễn Phú T, sinh năm 1993; HKTT và nơi ở: Khu 10, thị trấn C, huyện T, tỉnh
Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa : 11/12; Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Phú N; con bà Bùi Thị L;
Tiền án: Bản án phúc thẩm số 08 ngày 23/06/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh H
tuyên phạt bị cáo 18 tháng tù về tội ”Trộm cắp tài sản” ; chấp hành xong hình phạt ngày
20/01/2017 – Có mặt
Người bị hại: Anh Kim Văn D, sinh 1994; cư trú tại: Thôn Q, xã L, huyện N, tỉnh
Hà Nam – Có mặt
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1953; cư trú tại: Thôn Q, xã L, huyện N, tỉnh Hà
Nam – Có mặt
2. Chị Kim Thị T1, sinh năm 1983; cư trú tại: Số 106 tổ 1 phường H, thành phố L,
tỉnh Hà Nam – Có mặt
3. Chị Kim Thị T2, sinh năm 1993; cư trú tại: Tổ dân phố N, phường C, thành phố
L, tỉnh Hà Nam – Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu cú trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tốm tắt như sau:
Nguyễn Trắc H, Nguyễn Phú T và bị hại là anh Kim Văn D cùng thuê trọ ở xóm K,
thôn Đ, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. Do anh D và H có mâu thuẫn từ trước nên khoảng 21 giờ ngày 10/09/2017, sau khi đi ăn cơm tối về khu trọ H đã kể lại cho T nghe về việc mâu thuẫn giữa H với D. Nghe xong T liền đi lên tầng 2 của khu phòng trọ và gọi D xuống nói chuyện, khi D đi xuống dưới khu trọ rồi đi ra trước cửa hiên nhà đồng thời ngồi lên chiếc xe máy của D dựng đối diện với ghế sa lông chỗ H, T, Hà Văn C (SN: 1991, Đ, xã T, huyện L, Hòa Bình) và Đinh Văn Ch (SN: 1992, HKTT: Đ, xã T, huyện L, Hòa Bình) đang ngồi. Lúc này T liền chửi D đồng thời H lấy chiếc điếu cày làm bằng tre vụt một phát vào vùng mặt và cằm bên phải của D làm D ngã người ra đằng sau, bị đánh D bỏ chạy vào trong nhà, khi chạy đến cửa tầng 1 để vào nhà, do bị T giữ tay nên D bị trượt chân ngã ở bậc thềm trước cửa phòng trọ thì bị H tiếp tục dùng điếu cày vụt 2 phát vào lưng D, ngay lúc này T chạy đến dùng chân tay không đấm, đá vào người D, do mọi người can ngăn nên D bỏ chạy được ra ngoài thì T cầm điện thoại của mình ném về phía D đang chạy nhưng không trúng D. Sau đó D đến bệnh viện đa khoa Nông nghiệp, Thanh Trì, Hà Nội để cấp cứu. Đến ngày 16/09/2017 D về bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam để điều trị.
Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 1028 ngày 06/12/2017 của
Trung tâm pháp y – Sở y tế Hà Nội, tỷ lệ tổn hại sức khỏe của Kim Văn D như sau:
1. Các sẹo vết thương, vết mổ:
02%
2. Gãy xương hàm dưới hiện còn phương tiện kết hợp xương 10 %
3. Gãy xương mũi hiện không được ghi nhận tại giấy chứng nhận thương tích số
77 ngày 09/11/2017 của bệnh viện Đa khoa nông nghiệp; Giấy chứng nhận thương tích số 141 ngày 18/10/2017 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam và không có phim chụp tại thời điểm xảy ra vụ việc. Do vậy không đủ căn cứ để kết luận. Đề nghị giám định bổ sung sau nếu có đủ căn cứ và cần thiết.
4. Nhiều khả năng các thương tích do vật tày, tày có cạnh gây nên.
Tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 12 % (Mười hai phần trăm)
T¹i b¶n c¸o tr¹ng sè 114/CT- VKS ngµy 19/07/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyÖn
Thanh Tr× truy tè Nguyễn Trắc H, Nguyễn Phú L vÒ téi "Cè ý g©y th ¬ng tÝch" theo kho¶n 2 §iÒu 134 (Thuộc ®iÓm a kho¶n 1 Điều 134) Bộ Luật hình sự
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng
truy tố; Sau khi phạm tội và bị bắt tạm giam các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội để các cơ quan tiến hành tố tụng nhanh kết thúc vụ án, mong được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo nhanh được tái hòa nhập cộng đồng làm người có ích cho gia đình và cho xã hội.
Người bị hại tại phiên tòa thừa nhận lời khai tại phiên tòa của bị cáo là đúng và đề
nghị Hội đồng xét xử phần hình sự theo quy định của pháp luật; phần dân sự, ngày 10/08/2018, người bị hại đã có đơn yêu cầu bồi thường, tại phiên tòa người bị hại vẫn
giữ nguyên quan điểm như đơn ngày 10/08/2018, yêu cầu các bị cáo bồi thường cho
người bị hại 74 triệu đồng gồm: Tiền thuốc men 20 triệu; tiền chi phí nằm viện từ ngày
10/09/2017 đến ngày 15/09/2017 là 20 triệu; tiền mất thu nhập trong thời gian nằm viện
10 triệu đồng; Tiền thời gian không lao động do bị thương tích 30 triệu đồng; tiền chi
phí cho người chăm sóc thời gian nằm viện là 4 triệu đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N là mẹ anh D đề nghị các
bị cáo bồi thường cho bà tiền mất thu nhập phải ở nhà chăm sóc D là 6 triệu đồng; tiền
chi phí ăn uống và viện phí là 40 triệu đồng và các chi phí thêm khác; Tổng số là 50
triệu đồng.
Chị Kim Thị T1 là chị gái của người bị hại có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường
cho chị tiền mất thu nhập là 6 triệu đồng (300.000đ/1 ngày x 20 ngày = 6.000.000đồng;
tiền chi phí thuốc thang, thiết bị y tế và ăn uống trong thời gian chăm sóc D là 3 triệu
đồng. Tổng số là 9 triệu đồng.
Chị Kim Thị T2 là chị gái của D có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho chị tiền
mất thu nhập là 5 triệu đồng (2.500.000/1 ngày x 20 ngày = 5.000.000đồng); tiền chi phí
thuốc thang, thiết bị y tế và ăn uống trong thời gian chăm sóc D là 3 triệu đồng. Tổng số
là 9.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã luận tội, xem xét toàn diện
các chứng cứ có trong hồ sơ, thông qua việc xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên toà đã
kết luận: Do bị cáo H và anh D có mâu thuẫn. Đến khoảng 21 giờ 00 ngày 10/09/2017, tại
xóm K, thôn Đ, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội, bị cáo T gọi anh D xuống tầng một nói
chuyện; H đã dùng điếu cầy đánh anh D; bị cáo T dùng mũ bảo hiểm đánh D nhưng
không trúng. Hậu quả anh D bị thương tích 12%. Hành vi của các bị cáo là cấu thành tội
"Cè ý g©y th ¬ng tÝch" theo kho¶n 2 §iÒu 134 (Thuộc ®iÓm a kho¶n 1 Điều 134) Bộ
Luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng kho¶n 2 §iÒu 134 (Thuộc ®iÓm a kho¶n
1 Điều 134) đối với cả hai bị cáo; áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 đối với T; áp dụng
điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với H và T. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trắc H
mức án từ 30 đến 36 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Phú T mức án từ 30 đến 36 tháng
tù, tiếp rục giam các bị cáo. Về dân sự buộc các bị cáo phải bồi thường cho người bị hại
và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là 30 triệu đồng, mỗi bị cáo là
15.000.000đồng. tịch thu tiêu hủy 01 điếu cầy; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền
án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Thanh trì, Điều tra viên,
Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Đến
thời điểm mở phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi tố
tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp; Hội đồng xét xử nhận định về hành vi phạm tội của các bị cáo như sau [1].
Do bị cáo Nguyễn Trắc H có mâu thuẫn về việc lấy đồ ăn với anh Kim Văn D từ
buổi trưa; bị cáo H kể cho bị cáo T về việc mâu thuẫn rồi cả hai cùng bàn rủ anh D xuống tầng một nói chuyện rồi dùng điếu cầy đánh cho anh D một trận (BL 161, 199). Đến khoảng 21 giờ 00 ngày 10/09/2017, tại tầng một của nhà trọ ở xóm K, thôn Đ, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội, bị cáo H dùng điếu cầy đánh anh D; bị cáo T dùng mũ bảo hiểm đánh anh D nhưng không trúng. Hành vi bàn bạc dùng điếu cầy là hung khí đánh anh D bị thương tích 12% là có đủ dấu hiệu cấu thành tội "Cè ý g©y th ¬ng tÝch" theo kho¶n 2 §iÒu 134 (Thuộc ®iÓm a kho¶n 1 Điều 134) Bộ Luật hình sự. Do vậy, cần xö ph¹t các bị cáo mức ¸n nghiªm kh¾c tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Khi xem xÐt ®Õn l îng h×nh, Héi ®ång xÐt xö ®¸nh gi¸ tÝnh chÊt, vai trò, møc ®é nguy hiÓm cña hµnh vi người phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiÕt t¨ng nÆng, gi¶m nhÑ cña vô ¸n, thÊy [2]:
Vai trò, tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo
là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, chỉ mâu thuẫn nhỏ trong việc lấy thức ăn hàng ngày mà các bị cáo không nói chuyện được với nhau, phải dùng đến vũ lực; thể hiện các bị cáo sự coi thường pháp luật, coi thường tính mạng sức khỏe của người khác được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an cho xã hội, gây bức xúc và bất bình cho trong nhân dân. Trong vụ án này bị cáo H là người có mâu thuẫn nhỏ với D nhưng không tự dàn xếp mà nói chuyện với bị cáo T rồi chủ động dùng điếu cầy đánh D. Do vậy, bị cáo H có vai trò chính trong vụ án. Bị cáo D sau khi được bị cáo H kể chuyện đã tiếp nhận ý trí và gọi D xuống để cùng bị cáo H đánh anh D. Do vậy D có vai trò thứ yếu trong vụ án [3].
Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo: Các bị cáo có nhân thân
xấu, bị cáo H có 01 tiền án đã xóa, bị cáo T có 01 tiền án chưa được xóa, lần phạm tội này bị cáo T chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình để các cơ quan tiến hành tố tụng nhanh kết thúc vụ án, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để gảm một phần hình phạt cho các bị cáo [4].
Về dân sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa người bị hại, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan về phía bị hại có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường sức khỏe cho anh Kim Văn D là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 590 Bộ luật dân sự để xem xét giải quyết phần bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan như sau:
Tiền chi phí chữa trị, thuốc men cho người bị hại có hóa đơn hợp lệ là
6.968.000đồng; tiền mất thu nhập trong thời gian nằm viện là 13 ngày; thời gian bồi dưỡng sức khỏe là 23 ngày. Tổng là 40 ngày, mỗi ngày 200.000đồng/1 (40 ngày x 200.000 đồng = 8 triệu đồng. Tổng số tiền các bị cáo phải bồi thường cho anh D là 14.968.000đồng (Mười bốn triệu, chín trăm sáu mươi tám ngàn đồng chẵn)
Chi phí cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N chăm sóc
anh D trong thời gian nằm viện là 13 ngày và 07 ngày khi anh D mới ra viện cần có
người chăm sóc. Tổng số là 20 ngày, mỗi ngày 200.000đồng (200.000 đồng x 20 ngày =
4.000.000đồng, bốn triệu đồng chẵn)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Kim Thị T1 và chị Kim Thị T2 chăm
sóc 08 ngày x 200.000/1 ngày = 1.600.000đồng; mỗi chị là 800.000đồng.
Bị cáo H có vai trò chính trong vụ án, do vậy phải có trách nhiệm bồi thường cho
người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cao hơn bị cáo T. Buộc bị cáo H
phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại là anh D 10.000.000đồng; bị cáo T bồi
thường cho anh D là 4.968.000đồng
Buộc bị cáo H bồi thường cho bà N 4 triệu đồng; bị cáo T phải bồi thường cho chị
T1 800.000đồng; bồi thường cho chị T2 800.000đồng [5],
VËt chøng: Tịch thu tiêu hủy 01 điếu cầy bằng tre ;vật chứng hiện ở chi cục thi
hành án dân sự huyện Thanh Trì [6]
VÒ ¸n phÝ: Các bÞ c¸o ph¶i nép ¸n phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo
quy ®Þnh quy định của pháp luật; bÞ c¸o, ng êi bÞ h¹i, ng êi cã quyÒn, nghÜa vô liªn
quan cã quyÒn kh¸ng c¸o theo quy ®Þnh quy định của pháp luật [7].
V× c¸c lÏ trªn;
QuyÕt ®Þnh:
¸p dông kho¶n 2 §iÒu 134 (Theo ®iÓm a kho¶n 1 Điều 134); Điều 58; ®iÓm h
kho¶n 1 Điều 52 đối với bị cáo Tân ; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị
cáo H và T; tuyên bố bị cáo Nguyễn Trắc H và bị cáo Nguyễn Phú T phạm tội “Cố ý
gây thương tích“
Xử phạt: Nguyễn Trắc H 32 (Ba mươi hai) tháng tï, thời hạn tù tính từ ngày
28/02/2018, tiếp tục giam bị cáo dể đảm bảo thi hành án
Xử phạt Nguyễn Phú T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày
23/02/2018, tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án
Áp dụng Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333 và Điều 336
Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 357, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015, áp dụng
Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án
Buộc bị cáo Nguyễn Trắc H phải bồi thường cho người bị hại là anh Kim Văn D
10.000.000 đồng (Mười triệu đồng); buộc bị cáo Nguyễn Phú T phải bồi thường cho anh
D 4.968.000 đồng (Bốn triệu, chín trăm sáu tám ngàn đồng)
Buộc bị cáo Nguyễn Trắc H phải bồi thường cho người người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N 4.000.000đồng (Bốn triệu đồng); buộc bị cáo T phải
bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Kim Thị T1 và chị Kim Thị
T2, mỗi chị là 800.000đồng.
Bác các yêu cầu khác của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến
vụ án.
Tr êng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt thi hµnh
¸n d©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6, 7 vµ LuËt thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 luËt thi hµnh ¸n d©n sù";
TÞch thu tiªu hñy 01 điếu cầy, vật chứng hiÖn ®ang l u gi÷ t¹i chi côc Thi hµnh ¸n
d©n sù huyÖn Thanh Tr×
Mối bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn
Trắc H phải chụi 700.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Phú T chịu 328.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
BÞ c¸o; Ng êi bÞ h¹i có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án; ng êi cã quyÒn lîi, nghÜa vô liªn quan cã quyÒn kh¸ng c¸o phần liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận - TANDTP Hà Nội; - VKSND huyện Thanh Trì; - Trại tạm giam CATPHN; - Chị cục THA huyện Thanh Trì; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; | §ç V¨n Nghiªm |