vanban.org

Bản án 122/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 26/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Sơn Thành Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Sơn Thành Ph (tên gọi khác: Tuấn A) 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 02/4/2018. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sơn Thành Ph trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sơn Thành Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2018/HS-ST
Ngày: 26/7/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Vỵ;

2. Bà Trần Thị Thanh Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thuận - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2018/HSST ngày 15 tháng 6 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Sơn Thành Ph (tên gọi khác: Tuấn A), sinh ngày 30 tháng 10 năm 1996 tại tỉnh Bạc Liêu.

Nơi cư trú: Ấp TT B, thị trấn HB, huyện HB, tỉnh BL; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kh M; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch M và bà Sơn Thị D; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

* Quá trình nhân thân: Lúc nhỏ ở với bố mẹ tại Ấp TT B, thị trấn HB, huyện HB, tỉnh BL, đi học văn hóa đến lớp 12/12 thì nghỉ học ở nhà cho đến ngày gây án.

Bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã ngày 02/4/2018 tạm giam từ ngày 05/4/2018 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Sơn Thành Ph: Ông Trần Phước H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

* Bị hại: Anh Võ Quang H, sinh ngày 01/11/1995. Địa chỉ: 57/1 BV, xã HV, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Hiếu Th, sinh ngày 26/9/1992. Địa chỉ: 24 TH, phường TX, thành phố H. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Phạm Ngọc C, sinh ngày 05/02/1982. Địa chỉ: 337B ĐBP, phường TA, thành phố H. Vắng mặt.

2. Chị Phạm Thị Như L, sinh ngày 24/5/1980. Địa chỉ: 17/13 HMT, phường VD, thành phố H. Vắng mặt.

3. Bà Phan Thị Th, sinh năm 1969. Địa chỉ: 30B TTT, phường TA, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sơn Thành Ph có mối quan hệ quen biết với anh Trần Hiếu Th (sinh năm 1992, trú tại chùa QT, phường TX, thành phố H). Ngày 01/01/2018, Ph đi từ nhà mình ở tỉnh Bạc Liêu đến thành phố H chơi cùng với anh Th; rồi qua anh Th, Ph quen biết với anh Võ Quang H (sinh ngày 01/11/1995, trú tại Bao Vinh, phường Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế).

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 14/01/2018, anh Võ Quang H điều khiển xe môtô Airblade 75H1-455.58 (là xe của anh Th cho anh H mượn) đến nhà nghỉ ĐA ở số 337 đường ĐBP, phường TA, thành phố H chơi với Ph. Lúc này, Ph nảy sinh ý định trộm cắp xe môtô Airblade 75H1-455.58 đem bán lấy tiền tiêu xài. Lợi dụng lúc anh H đi vào phòng vệ sinh, Ph lén lút lấy trộm chùm chìa khóa xe môtô anh H để ở trên bàn, rồi đi xuống nhà nghỉ mở khóa dắt xe ra ngoài, điều khiển về gửi xe tại siêu thị BigC. Anh H sau khi biết Ph chiếm đoạt xe mô tô 75H1-455.58 đã trình báo ngày với Công an phường TA, thành phố H; đồng thời điện báo cho anh Th biết.

Sau khi chiếm đoạt được xe, Ph lên mạng in – tơ – nét để tìm chỗ bán xe nhưng không được, do xe không có giấy tờ gì. Thấy không thể bán được xe, Ph nhắn tin cho anh H và anh Th để đòi tiền chuộc xe. Theo hướng dẫn của công an phường, anh H và anh Th tiếp tục liên lạc với Ph và giả vờ thương lượng việc chuyển tiền chuộc xe cho Ph nhằm kéo dài thời gian, rồi hẹn Ph tại bến xe phía Nam thành phố H để giao tiền, lấy lại xe. Tại đây Phươc đã bị công an phường TA đưa về trụ sở để làm việc, tiến hành thu giữ chiếc xe mô tô 75H1-455 và lập hồ sơ để chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H xử lý.

* Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 chiếc xe môtô hiệu Airblade, biển số 75H1-455.58.

- 01 điện thoại hiệu Iphone5 màu trắng (đã cũ).

- 01 điện thoại hiệu Iphone4 màu trắng (đã cũ, không sử dụng được).

- 01 cái ba lô được làm bằng vải màu xanh; bên trong có áo quần và một số đồ dùng cá nhân của Sơn Thành Ph.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐG ngày 17/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H xác định: Trị giá chiếc xe môtô hiệu Airblade 75H1-455.58 là 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng).

* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Ngày 06/02/2018 Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại xe môtô hiệu Airblade 75H1-455.58 cho chủ sở hữu. Anh Trần Hiếu Th đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Anh Võ Quang H không yêu cầu Ph pH trả lại cho mình 500.000 đồng (đây là số tiền anh H đã trả tiền nhà nghỉ thay cho Ph).

Tại Bản cáo trạng số 103/CT-VKS ngày 14/6/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo Sơn Thành Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H: Giữ nguyên truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sơn Thành Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Sơn Thành Ph từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại 01 điện thoại hiệu Iphone5 màu trắng (đã cũ); 01 điện thoại hiệu Iphone4 màu trắng (đã cũ, không sử dụng được); 01 cái ba lô được làm bằng vải màu xanh, bên trong có áo quần và một số đồ dùng cá nhân của Sơn Thành Ph cho bị cáo Sơn Thành Ph.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Võ Quang H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo pH chịu theo luật định.

Tại phiên tòa Người bào chữa cho bị cáo Sơn Thành Ph có ý kiến: Hành vi của bị cáo Sơn Thành Ph đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về hoàn cảnh, điều kiện phạm tội của bị cáo, bị cáo ra Huế chơi, không có chỗ ở, không có người thân, do cần tiền để về quê và sinh hoạt hàng ngày nên bị cáo đã phạm tội. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Xem xét thêm cho bị cáo là người dân tộc thiểu số, nên ít am hiểu về pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo 05 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 14/01/2018, tại nhà nghỉ ĐA, địa chỉ 337 đường ĐBP, phường TA, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Sơn Thành Ph đã lén lút chiếm đoạt của anh Võ Quang H chiếc xe mô tô hiệu Airblade, biển số 75H1-455.58 để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Qua định giá, xe mô tô có giá trị 32.000.000đồng.

Với hành vi như trên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Sơn Thành Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với hành vi sau khi chiếm đoạt được xe mô tô, bị cáo nhắn tin cho anh H và anh Th yêu cầu chuyển tiền cho bị cáo để lấy lại xe, xét thấy hành vi của bị cáo chưa đến mức làm cho anh H và anh Th bị uy hiếp, khống chế về mặt ý chí nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế không truy tố bị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Sơn Thành Ph là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần xử phạt bị cáo với mức phạt thích đáng tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo có quá trình nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Tại phiên toà người bào chữa đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Ph, xét thấy hành vi của bị cáo Ph phạm tội với tang số 32.000.000đồng, sau khi chiếm đoạt tài sản bị cáo còn nhắn tin đòi tiền chuộc xe, hành vi thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật, nên cần xử phạt bị cáo với mức phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế là có căn cứ, đúng pháp luật, nên không chấp nhận đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Sơn Thành Ph.

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đúng theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Võ Quang H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô hiệu Airblade, biển số 75H1-455.58 cho anh Bùi Quang Th.

Trả lại cho bị cáo:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone5 màu trắng (đã qua sử dụng), số imel: 013420005511147.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone4 màu trắng (đã hư hỏng, không sử dụng được).

- 01 (một) ba lô được làm bằng vải màu xanh – đen vàng, bên trong gồm áo quần và một số đồ dùng cá nhân.

Do các vật chứng không liên quan đến việc phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/6/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Huế với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Sơn Thành Ph pH chịu 200.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

1. Tuyên bố bị cáo Sơn Thành Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Sơn Thành Ph (tên gọi khác: Tuấn A) 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 02/4/2018.

3. Về xử lý vật chứng:

Trả lại cho bị cáo Sơn Thành Ph:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone5 màu trắng (đã qua sử dụng), số imel: 013420005511147.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone4 màu trắng (đã hư hỏng, không sử dụng được).

- 01 (một) ba lô được làm bằng vải màu xanh – đen vàng, bên trong gồm áo quần và một số đồ dùng cá nhân.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/6/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Huế với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Sơn Thành Ph pH chịu 200.000đồng.

Án sơ thẩm xét xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ