vanban.org

Bản án 122/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 19/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo cho UBND xã N S, huyện A D, thành phố Hải Phòng quản lý trong thởi gian thử thách.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo cho UBND xã N S, huyện A D, thành phố Hải Phòng quản lý trong thởi gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2018/HS-ST
Ngày 19-9-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Mai

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Trúc Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Bùi Tuấn Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 105/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Hoàng Xuân Tr, sinh năm 1989 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn C T, xã N S, huyện A D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Xuân Nh (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ch; có vợ là Nguyễn Thị Th và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 26/5/2018 đến ngày 04/6/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại: Anh Hoàng Anh T, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Thôn 1, xã T T, huyện T L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/5/2018, Tr điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 30F6-4917 chở Th là bạn mới quen biết xã hội (chưa rõ lai lịch) đến nhà nghỉ V H 2 có địa chỉ tại 442 T N H, Quận L C, Hải Phòng để nghỉ. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, do Th bỏ về trước nên Trường đi một mình xuống quầy lễ tân thanh toán tiền phòng. Khi Tr ra lấy xe để về thì phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, biển kiểm soát 15N1-139.82 của anh Hoàng Anh T, sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn 1, xã T T, huyện T L, thành phố Hải Phòng có treo 02 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng, dựng cạnh với xe của Tr, Tr đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe. Quan sát xung quanh thấy không có ai, Tr lấy vam phá khóa ở trong túi xách mang theo từ trước, phá ổ khóa điện của xe mô tô Jupiter rồi phóng đi, để lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 30F6-4917. Khi Tr điều khiển xe ra khỏi nhà nghỉ thì chị Đào Thị B là chủ nhà nghỉ nhìn thấy Tr lấy xe và đã gọi chồng mình là anh Hoàng Văn A thông báo cho anh T biết. Sau khi lấy được chiếc xe, Tr đi về nhà ông nội là Hoàng Văn T, sinh năm 1927; nơi cư trú: C T, N S, A D, Hải Phòng để cất giữ. Do biết được hành vi của mình đã bị phát hiện nên khoảng 15 giờ 30 phút ngày 21/5/2018, Tr gọi điện thoại nhờ ông Phạm Văn C, sinh năm 1958; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 3/340 T N H, N N, L C, Hải Phòng (là người quen biết ngoài xã hội) đem chiếc xe trên về nhà nghỉ V H 2.

Cơ quan Công an đã thu giữ tại hiện trường 01 xe mô tô biển kiểm soát 30F6-4917.

Bản kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự số 40/KL-ĐGTTHS ngày 22/5/2018, Hội đồng định giá tài sản Quận Lê Chân xác định giá trị còn lại của chiếc xe mô tô 2 bánh đã qua sử dụng, nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter Gravita của anh T là 18.500.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Hoàng Xuân Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.

Tại cơ quan điều tra anh Hoàng Anh T khai nhận: Khoảng 2h ngày 20/5/2018 anh cùng bạn gái đến nhà nghỉ V H 2 để thuê phòng nghỉ, đến khoảng 12h cùng ngày anh đi xuống mua cơm, khi mua cơm về anh dắt xe vào khu vực để xe của nhà nghỉ, anh tắt khóa điện, rút chìa khóa và nên phòng. Lúc sau thì chủ nhà nghỉ có hỏi anh “ Em đi xe gì, xe màu gì?”, anh đáp đi xe Jupiter màu đỏ, sau đó chủ nhà nghỉ báo xe của anh có người chiếm đoạt. Hiện anh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Bản cáo trạng số 118/CT-VKSLC ngày 06/8/2018, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Hoàng Xuân Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận có hành vi trộm cắp tài sản như đã khai tại cơ quan điều tra và cáo trạng nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Hoàng Xuân Tr và đề nghị HĐXX:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt: Hoàng Xuân Tr mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, 24 đến 30 tháng thử thách.

Do bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Hoàng Anh T đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, biển kiểm soát 15N1-139.82 và không yêu cầu định giá hai chiếc mũ bảo hiểm do không còn giá trị sử dụng cũng như phần bồi thường về dân sự nên không đề nghị HĐXX xem xét.

Đối với bộ vam phá khóa do Tr đã vứt đi không thu hồi được nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 14 giờ ngày 20/5/2018, Hoàng Xuân Tr đã lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, biển kiểm soát 15N1-139.82 trị giá 18.500.000 đồng của anh Hoàng Anh T tại nhà nghỉ V H 2, số 442 T N H, phường N N, Quận L C, Hải Phòng nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Xuân Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiện hình sự:

Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. HĐXX thấy bị cáo Hoàng Xuân Tr có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành án phạt tù mà có thể áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Do bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Hoàng Anh T đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, biển kiểm soát 15N1-139.82; không yêu cầu định giá hai chiếc mũ bảo hiểm cũng như không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Đối với 01 bộ vam phá khóa của Hoàng Xuân Tr, Tr đã vứt đi nên quá trình điều tra không thu hồi được nên HĐXX không xét.

Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 30F6-4917 thu giữ tại hiện trường nhà nghỉ V H 2, quá trình điều tra chưa làm rõ được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Lê Chân đã tách ra, tiếp tục xác minh, làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau nên HĐXX không xét.

Đối với ông Hoàng Văn T, quá trình điều tra xác định ông T không biết việc Tr trộm cắp tài sản nên không có cơ sở để xử lý nên HĐXX không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Hoàng Xuân Tr 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, 24 (hai mươi tư) tháng thử thách về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND xã N S, huyện A D, thành phố Hải Phòng quản lý trong thởi gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ