- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị M - Lý Văn S"
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
TÒA ÁN NHÂN DÂN
C G ÒA XÃ I C
G ĨA VIỆ A
D
Độc lập – ự do – ạnh phúc
Ỉ BÌ DƯƠ G Bản án số: 122/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 02-11-2018 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
ƯỚC C G ÒA XÃ I C
G ĨA VIỆ A ÒA Á
 DÂ
D
, Ỉ BÌ DƯƠ G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Thu Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Minh Lý.
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Trung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 587/2018/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số: 72/2018/QĐST–HNGĐ ngày 05/10/2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị M, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số 196/30, Khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lý Văn S, sinh năm 1988. Địa chỉ thường trú: Ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ tạm trú: Số 196/30, Khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, (vắng mặt).
I D G VỤ Á :
Nguyên đơn bà Lê Thị M trình bày:
Bà Lê Thị M và ông Lý Văn S là vợ chồng có đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 21 quyển số 01/2011, ngày 15/8/2011 tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, ông S không có trách nhiệm với cho gia đình, vợ con, vợ chồng có nhiều khác biệt trong quan điểm sống, ông S thường xuyên bỏ nhà đi. Hai vợ chồng đã không còn tình cảm và sống ly thân. Nhận thấy vợ chồng không còn tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, hôn nhân không thể kéo dài và cần phải ly hôn để tạo điều kiện cho cả hai bắt đầu cuộc sống mới. Vì vậy, bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông S.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng bà M và ông S có 01 con chung tên Lý Bảo N, sinh ngày 30/3/2012. Khi ly hôn, bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Lý Văn S nhưng ông S không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà M.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đủ các thủ tục tố tụng. Vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ theo các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung khác.
Về nội dung: Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ậ ĐỊ C A ÒA Á :
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Lê Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Lý Văn S. Ông S có nơi cư trú tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T theo qui định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2] Về việc tham gia phiên tòa của các đương sự: Nguyên đơn vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 228, Khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị M và ông Lý Văn S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương vào ngày 15/8/2011 nên quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông S là hợp pháp theo qui định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
Bà M cho rằng trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do có nhiều khác biệt trong quan điểm sống, ông S không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc gia đình mà thường xuyên bỏ nhà đi không về. Hai vợ chồng đã không còn tình cảm và đã sống ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông S nhưng ông S không đến Tòa để làm việc cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà M. Do đó, xem như ông S từ bỏ quyền trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều này càng chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa bà M và ông S đã thực sự không còn và ông S cũng không mong muốn hàn gắn. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng ông S, bà M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của bà M là có căn cứ, đúng pháp luật theo quy định tại theo Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng ông S, bà M có 01 con chung tên Lý Bảo N, sinh ngày 30/3/2012. Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Xét, cháu N là con gái và còn nhỏ, hiện đang sống cùng bà M. Để đảm bảo sự phát triển về tâm sinh lý cũng như sự ổn định cuộc sống của cháu N thì cần để bà M tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Ông S cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu của bà M. Do đó, yêu cầu của bà M là có cơ sở chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử giao cháu Lý Bảo N cho bà M nuôi dưỡng, chăm sóc.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.
Từ phân tích trên, nhận thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà Lê Thị M phải nộp số tiền 300.000đồng.
V các l trên,
Q YẾ ĐỊ :
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị M về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với bị đơn ông Lý Văn S.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị M được ly hôn với ông Lý Văn S.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 21 quyển số 01/2011 do UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 15/8/2011 cho ông Lý Văn S và bà Lê Thị M không còn giá trị pháp lý.
1.2. Về con chung: Bà Lê Thị M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lý Bảo N, sinh ngày 30/3/2012.
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết.
Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi đương sự có yêu cầu Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con sau này nếu cần thiết. Không ai được quyền cản trở ông Lý Văn S trong việc thăm nom, chăm sóc con chung.
1.4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị M phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2016/0022407 ngày 20/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày được tống đạt hợp lệ.
. I ĐỒ G XÉ XỬ SƠ Ẩ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND Tp. Thủ Dầu Một; - CCTHADS Tp. Thủ Dầu Một; - UBND phường P, Tp. T; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | Ẩ Á - C ỌA IÊ ÒA Võ hị hu hảo |